Hồ sơ số 24/2026: Ai biết thông tin của 9 thành viên Trạm Giao liên Quận 55/E24 - Huyện đội An Lộc năm 1967?

Gần 60 năm đã trôi qua, kể từ những năm tháng chiến tranh ác liệt trên vùng đất Bình Long - An Lộc - Lộc Ninh. Nhiều người lính năm xưa đã ngã xuống, nhiều gia đình vẫn mòn mỏi chờ tin người thân, còn không ít đồng đội vẫn mang trong lòng những ký ức chưa thể khép lại. Trong bối cảnh cả nước đang hưởng ứng Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, một nhóm tư liệu đặc biệt vừa được dự án TTU-VWAI nghiên cứu từ hệ thống hồ sơ CDEC đã mở ra hy vọng mới trong việc xác minh danh tính, thân nhân và số phận của những con người từng góp phần làm nên lịch sử.
Đó là 10 hồ sơ CDEC mang các mã số F034602081846 đến F034602081907, số nhật ký 03-2404-67, được Lực lượng đặc nhiệm 5 (Dù) của Hoa Kỳ thu giữ ngày 08/3/1967 tại khu vực nay thuộc xã Tân Hưng, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước cũ. Các hồ sơ này do các nhà nghiên cứu Trần Công Đại, Phạm Thị Hồng Hà, Lê Đức Anh phối hợp thực hiện và biên tập Nguyễn Thị Kim Hoa vừa hoàn thành.
Từ những trang lý lịch trong 10 hồ sơ chứng tích chiến tranh, chúng tôi đi tìm thân nhân, đồng đội của 9 cán bộ, chiến sĩ Trạm Giao liên Quận 55 (Bình Long cũ). Tài liệu trong các hồ sơ nêu trên gồm hai cuốn sổ tay dài 38 trang, có một phần đặc biệt quý giá: sơ yếu lý lịch của 9 thành viên thuộc “Trạm Giao liên của 55”, thường được gọi là Quận 55 hoặc Huyện đội An Lộc, cùng nhiều thông tin về tổ chức, vũ khí và hoạt động của đơn vị.

Đây không chỉ là những dòng chữ hành chính đơn thuần. Mỗi bản lý lịch là một số phận. Mỗi cái tên là một cuộc đời. Và biết đâu, từ những thông tin tưởng như rất nhỏ ấy, sẽ có thêm những gia đình tìm được người thân, thêm những ngôi mộ vô danh được gọi đúng tên, thêm những trang lịch sử địa phương được phục dựng đầy đủ hơn.
I- NHỮNG CHIẾN SĨ GIAO LIÊN TUỔI 20 NĂM ẤY…
Từ những trang sổ tay đã ngả màu thời gian, hiện nổi lên chân dung của 9 cán bộ, chiến sĩ từng công tác tại Trạm Giao liên Quận 55/E24. Đây đều là những thông tin đặc biệt quan trọng đối với công tác xác minh thân nhân, đồng đội và tìm kiếm liệt sĩ.
1.Trần Văn Dinh (tức Nguyễn Thanh Xuân), sinh năm 1945
Quê xã Xuân Hiệp, thôn Linh Xuân, huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định; trú quán tại Đ Long, Tân Lập Phú, An Lộc, Bình Long. Xuất thân trong gia đình lao động nghèo, ông nhập ngũ từ ngày 27/7/1962, tham gia Đoàn Thanh niên năm 1963, trở thành đảng viên chính thức năm 1965 và từng giữ chức Bí thư Chi đoàn. Trong danh sách vũ khí của đơn vị, ông được ghi nhận là Tổ trưởng. Hồ sơ còn lưu tên cha nuôi Trần Văn Đỉnh và mẹ Lê Thị Bửu. Nếu còn thân nhân hoặc đồng đội của ông Trần Văn Dinh (Nguyễn Thanh Xuân), rất mong được cung cấp thêm thông tin.
2. Điểu Marích, sinh năm 1947
Người dân tộc S’tiêng, quê và nơi cư trú tại ấp Lộc Hòa, sóc Chà Răng, Lộc Ninh, Bình Long. Ông tham gia cách mạng từ năm 1961, thoát ly năm 1962 và làm công tác giao liên từ năm 1963. Hồ sơ ghi nhận ông có vợ là Nguyễn Thị Nguyệt, sinh năm 1945; cha vợ là Nguyễn Văn Đằng, mẹ vợ là Huỳnh Thị Thuận, đều ở xóm Bưng, Lộc Ninh. Đây là những đầu mối rất quan trọng để tìm kiếm thân nhân hiện nay.
3. Lê Văn Sử, sinh năm 1943
Quê và trú quán tại Làng 2, Lộc Ninh, Bình Long. Ông là công nhân cạo mủ cao su, bắt liên lạc với cách mạng từ năm 1961 và nhiều năm làm công tác giao liên. Hồ sơ cho biết ông có vợ là Tạ Thị Nhớn (hoặc Nhởn), làm công nhân cạo mủ, cùng hai con gái. Cha nuôi là Phạm Văn Cứ, mẹ là Lê Thị Nuôi. Những thông tin này có thể giúp xác định hậu duệ và người thân của ông ngày nay.
4. Điểu De, sinh năm 1947
Người dân tộc S’tiêng, quê tại sóc Bờ Lâm, Lộc Hòa, Lộc Ninh, Bình Long. Đầu năm 1962, ông tự tìm đến cách mạng và tham gia công tác giao liên đường dây. Năm 1965, ông được kết nạp Đảng Cộng sản và sau đó chuyển sang lực lượng vũ trang. Hồ sơ ghi tên cha là Điểu Miêu, mẹ là Thị Phan. Rất mong các gia đình người S’tiêng tại khu vực Lộc Hòa, Lộc Ninh hỗ trợ xác minh thêm thông tin.
5. Vũ Văn Lợi, sinh năm 1945
Quê Lộc Ninh, Bình Long; cư trú tại xóm Bưng. Ông tham gia phong trào địa phương từ năm 1964, sau đó chuyển về công tác tại Giao liên 55 từ đầu năm 1965. Hồ sơ ghi tên cha là Vũ Văn Hội, mẹ là Vũ Thị Xuân. Đây là một trong những trường hợp có địa chỉ cư trú khá rõ ràng, rất cần sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương và người dân khu vực Lộc Ninh.
6. Nguyễn Văn Khức, sinh năm 1946
Người dân tộc S’tiêng, quê tại sóc Do Tó (hoặc Do Co), xã Lộc An, quận Lộc Ninh, tỉnh Bình Long. Ông thoát ly năm 1962, làm giao liên từ năm 1963, sau đó chuyển sang công tác vũ trang. Hồ sơ ghi tên cha là Điểu Chức, mẹ là Thị Thi (hoặc Thị Vui). Đây là những dữ liệu quý để phục vụ công tác xác minh thân nhân.
7. Phạm Công Tứ (bí danh Quyết Tiến), sinh năm 1933
Quê An Bình Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre; cư trú tại Làng 2, Lộc Ninh. Ông là người lớn tuổi nhất trong nhóm giao liên được ghi nhận trong hồ sơ. Trước năm 1954 từng làm Thư ký Văn phòng Thanh niên huyện Ba Tri. Sau năm 1961 tiếp tục hoạt động cách mạng và về công tác tại Giao liên 55 từ năm 1963. Hồ sơ còn lưu tên người vợ là Lê Thị Sương, cùng hai người con. Đây là trường hợp có nhiều thông tin gia đình nhất, rất có khả năng tìm được thân nhân hiện nay.
8. Lâm Crông, sinh năm 1948
Người dân tộc Khmer, quê tại sóc Đất Đỏ, Lộc Ninh, Bình Long. Ông thoát ly địa phương năm 1964 và đến giữa năm 1966 chuyển sang công tác giao liên. Hồ sơ ghi tên cha là Lâm Nhé (hoặc Khé), mẹ là Thị Son (hoặc Đan), cùng một anh trai và một em gái từng bị bắt trong chiến tranh. Những thông tin này rất cần được cộng đồng người Khmer tại Bình Phước và vùng lân cận hỗ trợ xác minh.
9. Lâm Xua, sinh năm 1947
Người dân tộc Khmer, quê tại sóc Rừng, quận Lộc Ninh, tỉnh Bình Long. Sau khi thoát ly năm 1964, ông làm công tác giao liên cho đến thời điểm hồ sơ được lập. Hồ sơ cho biết cha là Lâm Phố, mẹ là Thị Phui (hoặc Phur), chưa có vợ con. Đây là một trong những trường hợp hiện còn rất ít thông tin, rất mong đồng đội và bà con địa phương hỗ trợ bổ sung tư liệu.
II- AI ĐÃ MẤT, AI CÒN SỐNG, HIỆN GIỜ HỌ ĐANG Ở ĐÂU?
Trong chiến tranh, lực lượng giao liên thường ít được nhắc đến hơn các đơn vị chiến đấu trực tiếp. Nhưng chính họ là những “mạch máu” nối liền các căn cứ, bảo đảm thư từ, tài liệu, mệnh lệnh và thông tin được chuyển đi an toàn giữa các vùng căn cứ.

Nhiều người trong số họ khi tham gia cách mạng mới chỉ học hết lớp Ba, lớp Tư. Có người là công nhân cạo mủ cao su, có người là nông dân, có người thuộc các dân tộc S’tiêng, Khmer sinh sống ở vùng biên giới Bình Long - Lộc Ninh. Họ đến với cách mạng bằng những con đường khác nhau, nhưng đều chung một lựa chọn: dấn thân vì độc lập dân tộc.
Điều đặc biệt là hồ sơ còn ghi lại những chi tiết rất đời thường. Có người đã có vợ và hai con. Có người còn độc thân. Có người có cha mẹ già ở quê nhà. Có người từng làm công nhân cạo mủ cao su. Những thông tin ấy khiến các bản lý lịch không còn là những tờ giấy vô tri, mà trở thành những lát cắt chân thực của cuộc sống trong chiến tranh.
Ông Điểu De còn sống sau chiến tranh?
Điều đáng mừng là trong quá trình nghiên cứu, đối chiếu giữa hồ sơ CDEC với các nguồn tư liệu lịch sử địa phương, nhóm nghiên cứu bước đầu đã tìm được dấu vết khá rõ của ít nhất một nhân vật trong số 9 thành viên Trạm Giao liên Quận 55 được ghi trong tài liệu.
Đó là ông Điểu De, sinh năm 1947. Theo hồ sơ CDEC F034602081879, Điểu De là người dân tộc S’tiêng, quê tại sóc Bờ Lâm, xã Lộc Hòa, quận Lộc Ninh, tỉnh Bình Long; tham gia cách mạng từ năm 1962, làm công tác giao liên đường dây, sau đó chuyển sang lực lượng vũ trang. Khi rà soát các nguồn tư liệu địa phương, chuyên viên nghiên cứu phát hiện một cựu quân nhân cùng tên là Điểu De, sinh năm 1947 và từ trần ngày 09/8/2023. Theo cáo phó và các bài viết trên báo chí địa phương, ông sinh tại Lộc An, Lộc Ninh, Bình Phước, cư trú tại ấp 8C, xã Lộc Hòa, huyện Lộc Ninh khi qua đời. Đặc biệt, các nguồn tư liệu đều cho biết ông từng làm giao liên, đặc công, tham gia Quân giải phóng từ năm 1962. Những chi tiết này trùng khớp đáng kể với nội dung bản lý lịch được lưu giữ trong hồ sơ CDEC.

Nếu giả thiết trên là chính xác, thì ông Điểu De chính là một trong 9 quân nhân của Trạm Giao liên Quận 55 được ghi lại trong cuốn sổ tay cách đây gần 60 năm. Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục cống hiến cho quê hương, từng giữ chức Bí thư Đảng ủy xã Lộc Hòa, là đại biểu Quốc hội khóa VIII, đồng thời là một già làng có uy tín trong cộng đồng người S’tiêng ở Bình Phước. Một số nguồn tư liệu cũng cho biết vợ ông là bà Thị Phớ. Tuy nhiên, để có cơ sở xác nhận chính thức, rất cần sự phối hợp của gia đình, đồng đội cũ và chính quyền địa phương trong việc đối chiếu thêm hồ sơ đơn vị, quá trình công tác và các nhân chứng liên quan.Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng phát hiện một chi tiết đáng chú ý khác.
Trong cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Hớn Quản” có nhắc đến một cán bộ tên Trần Minh, người sau này giữ chức Trưởng ban Tổ chức Huyện ủy Bình Long. Điều đáng nói là trong bản lý lịch của Trần Văn Dinh (tức Nguyễn Thanh Xuân), một người tên Trần Minh được ghi là người giới thiệu và kết nạp ông vào Đảng. Dù hiện chưa đủ căn cứ để khẳng định hai nhân vật này là một người, nhưng việc họ cùng xuất hiện trong một không gian hoạt động cách mạng rất cụ thể tại Bình Long – Lộc Ninh những năm đầu thập niên 1960 cho thấy đây là một hướng nghiên cứu đầy triển vọng. Nếu được xác minh, đây sẽ là thêm một mắt xích quan trọng giúp phục dựng lịch sử hoạt động của Trạm Giao liên Quận 55 và số phận của những con người từng âm thầm góp sức cho cuộc kháng chiến.
Từ góc độ văn hóa tri ân, giá trị lớn nhất của những hồ sơ này không nằm ở thông tin quân sự, mà nằm ở khả năng giúp kết nối quá khứ với hiện tại. Mỗi dòng chữ có thể là chìa khóa mở ra hành trình tìm kiếm thân nhân. Mỗi cái tên có thể giúp xác định một liệt sĩ còn thiếu thông tin. Mỗi địa danh có thể giúp làm sáng tỏ những khoảng trống trong lịch sử địa phương.
Hiện nay, nhiều địa danh trong hồ sơ đã thay đổi theo các lần điều chỉnh hành chính. Nhiều nhân chứng trực tiếp đã lớn tuổi. Nếu không kịp thời xác minh, rất có thể những thông tin quý giá này sẽ tiếp tục chìm vào quên lãng.
Vì vậy, chúng tôi tha thiết kêu gọi các cựu chiến binh từng hoạt động tại Bình Long, An Lộc, Lộc Ninh, Hớn Quản; các cán bộ, chiến sĩ từng công tác tại Quận 55, E24, A302; cũng như thân nhân của các ông Trần Văn Dinh (Nguyễn Thanh Xuân), Điểu Marích, Lê Văn Sử, Điểu De, Vũ Văn Lợi, Nguyễn Văn Khức, Phạm Công Tứ, Lâm Crông và Lâm Xua liên hệ cung cấp thêm thông tin.
Biết đâu trong số những người đang đọc những dòng này có con cháu của một trong chín người giao liên năm ấy. Biết đâu vẫn còn một người đồng đội nhớ rõ từng khuôn mặt, từng chuyến đi, từng căn cứ. Và cũng biết đâu, từ một cuộc điện thoại hay một lá thư, sẽ mở ra cơ hội tìm thấy phần mộ của một liệt sĩ hoặc trả lại tên tuổi cho một người đã nằm lại chiến trường suốt gần sáu mươi năm qua.
Chiến tranh đã lùi xa. Nhưng trách nhiệm với những người đã hy sinh thì chưa bao giờ kết thúc. Hành trình tìm kiếm, xác minh và tri ân hôm nay không chỉ dành cho quá khứ, mà còn là cách để thế hệ hiện tại gìn giữ đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, để những người đã cống hiến tuổi xuân cho đất nước không bị lãng quên trong dòng chảy thời gian. Và đó cũng chính là ý nghĩa sâu xa nhất của Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định thông tin liệt sĩ đang được cả xã hội chung tay hưởng ứng.
Hải Phòng, 17/6/2026
Đặng Vương Hưng
(Thành viên của Dự án TTU-VWAI)








![[GALLERY] Người đã mất vẫn kể chuyện cho con cháu nhờ công nghệ AI](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_06_17_180_55418070/e10d7cbf06f4efaab6e5.jpg)


