Hồ sơ số 77/2026: Suốt đời tôi nhớ lời cha dặn và di ảnh liệt sĩ tách đôi
Trong hàng triệu gia đình Việt Nam từng đi qua chiến tranh, có những nhà giữ được một chiếc ba lô, một cuốn nhật ký, vài lá thư. Có gia đình chỉ còn một tờ giấy báo tử. Và có gia đình, như gia đình liệt sĩ Nguyễn Mạnh Cường, giữ một nửa tấm ảnh. Nửa tấm ảnh ấy có lẽ là biểu tượng đau đớn mà cũng đẹp đẽ nhất cho nghĩa tình đồng đội thời chiến: hai người lính đứng bên nhau trong một khuôn hình, cả hai cùng không trở về, đồng đội không nỡ để bất kỳ gia đình nào trắng tay nên cắt bức ảnh làm đôi.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày liệt sĩ Nguyễn Mạnh Cường nằm lại chiến trường phía Nam. Người mẹ từng tham gia cách mạng đã đi hết cuộc đời mà chưa biết con mình nằm ở đâu.
Người cha của Đại tá, giảng viên Nguyễn Thành Dũng trước lúc con lên đường công tác tại Quân khu 9 chỉ dặn một điều: “Con đi công tác tốt, nhớ tìm mộ cậu Cường!”. Hai người nay đều đã khuất. Còn lại một lời dặn chưa hoàn thành, những manh mối rời rạc về chiến trường và một nửa tấm ảnh đồng đội gửi về từ năm 1974…
1- Lời nhắn trong mưa phùn, gió bấc
Có những lời dặn chỉ nói một lần nhưng người nghe phải mang theo suốt cả cuộc đời. Đối với ông Nguyễn Thành Dũng, nguyên giảng viên Khoa Công tác Đảng, công tác chính trị, Trường Sĩ quan Lục quân 2, đó là lời cha nói với ông vào năm 1994, trước ngày người sĩ quan trẻ xung phong vào Quân khu 9 nhận công tác: “Con đi công tác tốt, nhớ tìm mộ cậu Cường!” Một câu nói ngắn ngủi, nhưng phía sau nó là nỗi đau kéo dài hơn hai thập niên của một gia đình khi ấy và rồi hơn nửa thế kỷ cho đến hôm nay.
Liệt sĩ Nguyễn Mạnh Cường, sinh ngày 22/7/1950, quê thôn Phần Hà, xã Bắc Sơn, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, nay thuộc thôn Phần Hà, xã Phạm Ngũ Lão, tỉnh Hưng Yên. Cha ông là Nguyễn Trọng Cạnh, nguyên Tự vệ thành Hà Nội, đã hy sinh trong kháng chiến chống Pháp. Mẹ là bà Đặng Thị Cong, cán bộ tiền khởi nghĩa, từng tham gia phong trào du kích Hoàng Ngân. Cường lớn lên trong một gia đình mà sự hy sinh cho đất nước không phải điều được kể bằng những lời lớn lao, mà hiện hữu ngay trong bàn thờ người cha đã khuất, trong cuộc đời cách mạng của người mẹ và trong những năm tháng đất nước còn chia cắt.
Theo tài liệu gia đình, khi chưa đầy 18 tuổi, Nguyễn Mạnh Cường đã viết đơn xin nhập ngũ bằng máu. Trước cán bộ tuyển quân, chàng trai quê Hưng Yên nói một câu mà những người thân vẫn nhớ: “Tôi muốn được vào Nam chiến đấu, dẫu có chết cũng xanh cỏ, còn sống thì đỏ ngực.” Đó không chỉ là khí phách của một thanh niên, mà còn phản ánh tinh thần lên đường của cả một thế hệ trong những năm chiến tranh ác liệt. Tháng 12/1967, Nguyễn Mạnh Cường nhập ngũ. Từ một chiến sĩ trinh sát, qua chiến đấu và trưởng thành, ông trở thành cán bộ chỉ huy đại đội. Hồ sơ gia đình ghi đơn vị của ông qua các thời kỳ có C3, D1, E88 và sau đó thuộc lực lượng địa phương tại chiến trường Kiến Phong, trong đó có Tiểu đoàn 718; cấp bậc cuối cùng được gia đình lưu giữ là Thượng úy, Đại đội trưởng.
Nhưng trong ký ức của Nguyễn Thành Dũng, cậu Cường trước hết vẫn là người thanh niên đã đi hơn 20 km giữa mưa phùn, gió bấc chỉ để mang về một tin vui cho gia đình. Cha ông Dũng kể rằng, ngày con trai mình chào đời, Nguyễn Mạnh Cường đang tranh thủ từ đơn vị trở về. Biết chị vừa sinh cháu, Cường đã đi bộ hơn 20 km đến báo tin: “Anh! Chị sinh cháu trai lúc 2 giờ sáng nay, cả hai mẹ con đều khỏe.” Báo tin xong, người lính trẻ lại vội vàng quay về đơn vị, bởi hôm sau phải lên đường vào Nam. Không ai biết đó gần như là một trong những cuộc gặp cuối cùng.
Người thanh niên từng lội bộ trong mưa rét để báo tin một đứa trẻ ra đời sau đó đi vào chiến trường. Đứa trẻ ấy lớn lên, trở thành sĩ quan Quân đội và gần ba thập niên sau lại vào chính miền đất cậu mình từng chiến đấu, mang theo lời cha: hãy tìm cậu Cường. Cuộc đời đôi khi khép những vòng tròn như thế. Chỉ tiếc rằng, vòng tròn của một ngôi mộ liệt sĩ vẫn chưa thể khép lại.
2- Tấm ảnh bị cắt làm đôi và lá thư từ chiến trường
Trong số những kỷ vật còn lại của liệt sĩ Nguyễn Mạnh Cường, ám ảnh nhất có lẽ là một bức ảnh. Đó không phải một di ảnh được chụp trang trọng trước ngày lên đường, cũng không phải bức chân dung còn nguyên vẹn như nhiều gia đình liệt sĩ may mắn gìn giữ được. Đó là một nửa bức ảnh.
Tháng 5/1974, khi chiến tranh vẫn còn khốc liệt, một người đồng đội tên Nguyễn Văn Xuân, hòm thư 788-125A3, gửi thư về gia đình. Trong thư có những dòng báo tin đau đớn: “Đ/c Cường đã đi xa, tấm hình này chụp chung với một đồng chí khác, hai người đã hy sinh. Chúng tôi cắt ra gửi về hai gia đình làm kỷ niệm, chúng tôi xin chia buồn cùng gia đình, nguyện chiến đấu trả thù cho đồng chí Cường.” Một tấm ảnh chụp hai người lính. Hai người sau đó cùng hy sinh. Đồng đội phải cắt bức ảnh thành hai phần, gửi mỗi nửa về một gia đình. Trong sự khốc liệt của chiến tranh, đó là một cách chia kỷ vật đến nao lòng.

Người ta có thể cắt đôi một bức ảnh, nhưng không thể cắt đôi ký ức. Một nửa tấm hình trở thành di ảnh của người đã khuất; nửa còn lại đi về một gia đình khác mà có thể suốt nhiều thập niên cũng mang một nỗi chờ mong tương tự. Theo thông tin gia đình lưu giữ, bức ảnh được chụp tại khu vực kênh Dương Văn Dương, Tân Thành, huyện Kiến Tường, tỉnh Long An. Nếu thông tin này được tiếp tục kiểm chứng từ đồng đội, hồ sơ đơn vị và tài liệu chiến trường, chính bức ảnh tưởng chỉ có ý nghĩa tình cảm ấy có thể trở thành một dấu mốc quan trọng trong việc phục dựng hành trình chiến đấu của liệt sĩ Nguyễn Mạnh Cường.
Những đồng đội cùng quê như ông Phạm Văn Tiến và ông Thanh từng kể rằng trong khoảng 1968-1970, đơn vị của Nguyễn Mạnh Cường chiến đấu ở nhiều địa bàn ác liệt: Củ Chi - Gia Định, Trảng Bàng - Tây Ninh và một số vị trí, đồn bốt khác. Khi ấy ông là chiến sĩ trinh sát thuộc C3, E88. Những năm sau, chiến trường và tổ chức lực lượng liên tục thay đổi. Theo lời các cựu chiến binh mà gia đình gặp hoặc liên lạc trong quá trình tìm kiếm, Nguyễn Mạnh Cường sau đó có thời gian tham gia lực lượng thuộc Tiểu đoàn 147 tỉnh Kiến Phong. Trong bối cảnh chiến tranh “cài răng lược”, khoảng năm 1970, ba đại đội được tổ chức thành Tiểu đoàn 718, và ông Cường được nhớ lại với cương vị Đại đội trưởng Đại đội 2.
Những thông tin này được gia đình kiên trì thu thập từ nhiều nhân chứng: ông Nguyễn Thanh Sơn ở Hà Nội; ông Trịnh Hải Đường ở Thanh Hóa; ông Hựu, nguyên Chính trị viên Đại đội 2; Đại tá Ba Nhiễm, nguyên Chính trị viên Tiểu đoàn 718 tại Đồng Tháp cùng một số đồng đội khác. Mỗi người nhớ một đoạn, mỗi hồ sơ ghi một chi tiết, mỗi địa danh là một khả năng. Hơn 50 năm sau chiến tranh, gia đình phải lần theo những mảnh ký ức ấy như ghép lại một tấm bản đồ đã bị thời gian làm phai nhòe.
3- Hai mốc thời gian và câu hỏi: Anh nằm lại nơi đâu?
Giấy báo tử gia đình đang lưu giữ ghi: liệt sĩ Nguyễn Mạnh Cường, Đại đội trưởng, hy sinh ngày 30/4/1972 tại mặt trận phía Nam; thi hài được an táng tại khu vực riêng của đơn vị gần mặt trận, phía Nam Đường số 10. Giấy báo tử do Quân khu Tả Ngạn cấp ngày 1/4/1976. Trên góc phải còn một số ký hiệu viết tay và dãy số mà gia đình hy vọng có thể là chìa khóa để truy ngược hồ sơ gốc.
Tuy nhiên, lời kể của một số đồng đội lại mở ra một hướng tìm kiếm khác. Theo thông tin gia đình thu thập được, ngày 7/5/1972, đối phương mở một trận càn lớn vào khu vực Tỉnh đội Kiến Phong nhằm mở rộng vùng kiểm soát. Đại đội của Nguyễn Mạnh Cường khi ấy được cho là chiến đấu tại khu vực Bình Hàng Trung và Bình Hàng Tây, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Từ đó, gia đình đặt ra giả thiết: liệu ngày hy sinh thực tế của ông có liên quan đến trận đánh đầu tháng 5/1972, trong khi ngày 30/4/1972 trên giấy báo tử là mốc được tổng hợp trong điều kiện chiến tranh?

Đây mới chỉ là giả thiết cần được kiểm chứng, không thể thay thế thông tin chính thức trong hồ sơ liệt sĩ. Nhưng đối với công tác tìm kiếm hài cốt sau hơn nửa thế kỷ, một chênh lệch vài ngày, một tên đơn vị, một con kênh, một con đường hay vị trí nghĩa trang cũ đều có thể làm thay đổi hoàn toàn phạm vi tìm kiếm. Một số đồng đội nhận định, nếu Nguyễn Mạnh Cường hy sinh khi đang giữ cương vị cán bộ đại đội thuộc Tiểu đoàn 718, thi hài có thể đã được quy tập về nghĩa trang của tỉnh, khu vực nay thuộc thành phố Cao Lãnh, hoặc nghĩa trang huyện Cao Lãnh. Gia đình cũng được cung cấp thông tin về vị trí an táng của các liệt sĩ Tiểu đoàn 718 và Đại đội 2 trong những nghĩa trang này.
Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ, một cán bộ từng công tác tại E88, khi được gia đình liên hệ cũng cho biết trong năm 1972, Trung đoàn 88 hoạt động tại chiến trường Tây Nam Bộ, vì thế hướng tìm kiếm tại khu vực này càng cần được tiếp tục đối chiếu. Nhưng chiến tranh không vận hành theo những đường thẳng đơn giản. Đơn vị có thể chia tách, bổ sung, chuyển thuộc; thương binh, liệt sĩ có thể được mai táng tại nghĩa trang đơn vị rồi nhiều lần quy tập; tên địa danh thay đổi; hồ sơ thất lạc hoặc ghi theo mật danh. Bởi vậy, điều gia đình cần hôm nay không chỉ là một cuộc tìm kiếm bằng ký ức, mà là sự đối chiếu có hệ thống giữa hồ sơ quân đội Việt Nam, tài liệu đơn vị, danh sách liệt sĩ, sơ đồ nghĩa trang, hồ sơ quy tập và những nguồn tư liệu chiến trường còn được lưu giữ ở phía Hoa Kỳ.
Đó cũng là lý do gia đình gửi thông tin tới Dự án TTU-VWAI, mong những nguồn tài liệu chiến tranh đang được số hóa, giải mật và nghiên cứu có thể bổ sung một mảnh ghép còn thiếu cho hành trình tìm kiếm.
4- Người mẹ đi qua chiến tranh nhưng không đi hết được nỗi chờ con
Trong câu chuyện về liệt sĩ Nguyễn Mạnh Cường còn có một người phụ nữ đặc biệt: bà Đặng Thị Cong. Bà là cán bộ tiền khởi nghĩa, một đảng viên lâu năm, từng tham gia hoạt động cách mạng trong những năm tháng hiểm nguy. Bà đã chứng kiến mất mát của chiến tranh từ rất sớm: chồng là ông Nguyễn Trọng Cạnh, Tự vệ thành Hà Nội, hy sinh trong kháng chiến chống Pháp. Rồi đến lượt người con trai Nguyễn Mạnh Cường lên đường.
Một người phụ nữ có thể đủ gan góc để đối diện kẻ thù, đủ kiên cường để đi qua bom đạn, nhưng trước nỗi đau của một người mẹ không biết con mình nằm ở đâu, sự kiên cường ấy vẫn có những giới hạn rất con người. Suốt hơn 40 năm sau ngày con hy sinh, nguyện vọng lớn nhất của bà chỉ là được biết nơi con ngã xuống và phần mộ của con.

Mỗi lần trở về quê thăm bà, ông Nguyễn Thành Dũng lại thấy trong lòng day dứt. Ông biết mình đã đi qua chính những miền đất phía Nam nơi cậu chiến đấu. Ông là một sĩ quan, có đồng đội, có điều kiện tiếp cận nhiều nguồn thông tin hơn lớp người đi trước. Vậy mà năm tháng cứ trôi, câu hỏi vẫn chưa có lời đáp. “Tôi thấy mình thật có lỗi với cụ”, ông tâm sự. Nhưng rồi bà Đặng Thị Cong cũng qua đời. Người cha đã trao lời dặn năm 1994 cũng không còn. Hai người thuộc thế hệ trước đã ra đi, để lại cho người con, người cháu một món nợ nghĩa tình không tính bằng tiền bạc, mà bằng một lời hứa chưa thực hiện được: “Con nhớ tìm mộ cậu Cường.”
5- Một nửa di ảnh và món nợ của người còn sống
Trong hàng triệu gia đình Việt Nam từng đi qua chiến tranh, có những nhà giữ được một chiếc ba lô, một cuốn nhật ký, vài lá thư. Có gia đình chỉ còn một tờ giấy báo tử. Và có gia đình, như gia đình liệt sĩ Nguyễn Mạnh Cường, giữ một nửa tấm ảnh. Nửa tấm ảnh ấy có lẽ là biểu tượng đau đớn mà cũng đẹp đẽ nhất cho nghĩa tình đồng đội thời chiến: hai người lính đứng bên nhau trong một khuôn hình, cả hai cùng không trở về, đồng đội không nỡ để bất kỳ gia đình nào trắng tay nên cắt bức ảnh làm đôi.
Một nửa đi về Hưng Yên, một nửa đi về một miền quê khác. Hơn nửa thế kỷ sau, có thể người trong hai nửa bức ảnh vẫn đang nằm đâu đó trên những cánh đồng, bên một con kênh, dưới một hàng cây hoặc đã được quy tập vào nghĩa trang nhưng chưa xác định được danh tính. Chiến tranh đã lùi xa. Những người mẹ chờ con, người vợ chờ chồng, những người đồng đội biết chính xác vị trí một ngôi mộ ngày càng ít đi. Vì thế, việc tìm kiếm người mất tích trong chiến tranh hôm nay không thể chậm trễ hơn nữa.
Một ký hiệu trên giấy báo tử cần được giải mã; một hòm thư quân đội cần được đối chiếu; một phiên hiệu C3-E88 hay C2-D718 cần được nối với nhật ký tác chiến và lịch sử đơn vị; một địa danh “phía Nam Đường số 10” cần được đặt lên bản đồ chiến trường năm 1972; một nghĩa trang cũ cần được so sánh với hồ sơ quy tập; một bức ảnh chụp bên kênh Dương Văn Dương có thể cần được nhận diện thêm người, thời gian và đơn vị. Đặc biệt, ký ức của những cựu chiến binh từng biết, từng chiến đấu cùng Đại đội trưởng Nguyễn Mạnh Cường cần được ghi lại khi còn có thể.
Đó không chỉ là việc riêng của một gia đình. Tìm lại một liệt sĩ là trả lại tên cho một con người, trả lại một địa chỉ cho sự hy sinh và giúp một gia đình hoàn thành cuộc trở về đã kéo dài hơn nửa thế kỷ. Người mẹ Đặng Thị Cong đã không chờ được ngày ấy. Người cha từng căn dặn Nguyễn Thành Dũng cũng đã đi xa. Nhưng lời dặn vẫn còn, và một nửa di ảnh vẫn còn.
Ông Nguyễn Thành Dũng giờ đây chỉ mong những đồng đội của liệt sĩ Nguyễn Mạnh Cường, những cán bộ từng công tác tại E88, Tiểu đoàn 718, lực lượng vũ trang Kiến Phong; các cơ quan quân đội, chính quyền và nhân dân tại Đồng Tháp, Long An, Tây Ninh cùng các nhà nghiên cứu, những người đang lưu giữ tài liệu chiến tranh trong và ngoài nước giúp gia đình nối tiếp những dấu vết còn dang dở. Bởi phía sau một ngôi mộ chưa tìm thấy không chỉ có một người lính. Ở đó còn có một người mẹ đã chờ con đến cuối đời, một người cha gửi lại lời dặn cho thế hệ sau và một người cháu suốt mấy chục năm tự nhắc mình chưa được phép quên.
6- “Con đi công tác tốt, nhớ tìm mộ cậu Cường!”
Có lẽ, cho đến ngày tìm được nơi liệt sĩ Nguyễn Mạnh Cường yên nghỉ, câu nói ấy vẫn còn theo Nguyễn Thành Dũng trên mọi hành trình. Và biết đâu, chính từ những dòng thông tin được lan tỏa hôm nay, một đồng đội năm xưa, một gia đình đang giữ nửa còn lại của tấm ảnh, hoặc một hồ sơ chiến trường nằm im trong kho lưu trữ sẽ xuất hiện để giúp hai nửa ký ức sau hơn 50 năm cuối cùng được nối lại.
Liệt sĩ Nguyễn Mạnh Cường, sinh 22/7/1950; quê thôn Phần Hà, xã Bắc Sơn, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, nay thuộc xã Phạm Ngũ Lão, tỉnh Hưng Yên; nhập ngũ tháng 12/1967; từng công tác, chiến đấu tại C3-D1-E88 và các đơn vị liên quan, sau này được đồng đội cho biết là Đại đội trưởng Đại đội 2, Tiểu đoàn 718, chiến trường Kiến Phong; cấp bậc Thượng úy. Giấy báo tử ghi hy sinh ngày 30/4/1972 tại mặt trận phía Nam, an táng tại khu vực riêng của đơn vị gần mặt trận, “phía Nam Đường số 10”. Gia đình đang đặc biệt mong muốn xác minh hoạt động của đơn vị tại Kiến Phong - Cao Lãnh trong khoảng cuối tháng 4, đầu tháng 5/1972 và quá trình an táng, quy tập các liệt sĩ Tiểu đoàn 718. (Bài viết dựa trên tư liệu do ông Nguyễn Hồng Sinh là anh trai của liệt sĩ Nguyễn Mạnh Cường cung cấp).
Mọi thông tin xin liên hệ: Nguyễn Thành Dũng Email: nguyenthanhdung10@yahoo.com. Điện thoại: 0982 130 170.
Hà Nội, 26/8/2026
Đặng Vương Hưng
(Thành viên của Dự án TTU-VWAI)
