Hỗ trợ các cơ sở doanh nghiệp miền Trung, Tây Nguyên kiểm kê, giảm phát thải khí nhà kính
Ngoài chia sẻ về các chính sách, công cụ kiểm kê, giảm phát thải khí nhà kính; các tổ chức, đơn vị, cơ sở phát thải lớn còn thực hành kỹ thuật kiểm kê cho 4 lĩnh vực trọng điểm gồm: năng lượng; các quá trình công nghiệp; nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất; chất thải…

Báo cáo kiểm kê khí nhà kính phải tuân thủ nguyên tắc đầy đủ, minh bạch, chính xác, nhất quán, so sánh được, đặt ra yêu cầu khắt khe ngay từ các báo cáo kiểm kê cấp cơ sở. Ảnh: Phúc Bình
Trong khuôn khổ Dự án “Nâng cao năng lực quản lý dữ liệu và thông tin báo cáo phù hợp với yêu cầu Khung minh bạch tăng cường của Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu”, từ ngày 13-15/10 tại Đà Nẵng, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tổ chức hội thảo đào tạo, tập huấn về chính sách, công cụ giảm phát thải khí nhà kính. Trước đó, các sự kiện tương tự cũng đã được tổ chức tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh.
Chương tình hướng mục tiêu bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ quản lý, cơ sở nghiên cứu và các doanh nghiệp phát thải lớn tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Tại hội thảo, các chuyên gia tập trung chia sẻ về phương pháp kiểm kê khí nhà kính theo Hướng dẫn IPCC 2006, kiểm kê khí nhà kính quốc gia, Hệ thống Đo đạc- Báo cáo- Thẩm định (MRV) quốc gia.
Các tổ chức, đơn vị, cơ sở doanh nghiệp cũng thực hành kỹ thuật kiểm kê cho 4 lĩnh vực trọng điểm gồm: năng lượng; các quá trình công nghiệp (IPPU); nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất (AFOLU); chất thải, cùng kỹ năng thao tác trên các công cụ, phần mềm theo dõi tiến độ giảm phát thải quốc gia.
Trao đổi tại hội thảo, ông Nguyễn Văn Tuệ, Cố vấn cấp cao về Biến đổi khí hậu của Dự án CBIT, cho biết việc ứng phó với biến đổi khí hậu trên toàn cầu đang chuyển dịch mạnh mẽ từ các cam kết chính trị sang việc tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật bắt buộc. Thông qua hội thảo giúp các cơ quan, doanh nghiệp tại địa phương trực tiếp tháo gỡ các vấn đề về thu thập số liệu hoạt động, lựa chọn hệ số phát thải và hoàn thiện báo cáo cấp cơ sở. Từ đó từng bước giảm thiểu rủi ro pháp lý và sẵn sàng tham gia vào thị trường carbon.
Còn theo ông Jaypalsinh Chauhan, Điều phối viên Mạng lưới Minh bạch Khí hậu châu Á, Việt Nam cũng như các quốc gia tham gia Thỏa thuận Paris phải chuyển dần sang thực hiện Báo cáo minh bạch hai năm một lần (BTR), đi kèm hệ thống 62 biểu mẫu bắt buộc. Đặc biệt, báo cáo kiểm kê khí nhà kính phải tuân thủ nguyên tắc đầy đủ, minh bạch, chính xác, nhất quán, so sánh được. Điều này đặt ra yêu cầu khắt khe ngay từ các báo cáo kiểm kê cấp cơ sở.
Tập trung sâu vào kiểm soát chất lượng báo cáo kiểm kê, ông Akihiro Tamai, Nghiên cứu viên cấp cao thuộc Trung tâm Hợp tác môi trường quốc tế Nhật Bản chia sẻ các giải pháp thiết lập quy trình đảm bảo chất lượng/kiểm soát chất lượng (QA/QC).
Theo ông Akihiro Tamai, công tác kiểm soát chất lượng (QC) phải được hoạch định ngay từ đầu chu trình kiểm kê để tránh các lỗi kỹ thuật thường gặp trong thực tế. Từ việc thiếu kiểm soát tài liệu, sai sót chuyển đổi đơn vị tính, áp dụng sai hệ số phát thải, đến việc sử dụng các mã ký hiệu chưa thống nhất giữa các biểu mẫu...
Chuyên gia khuyến nghị các đơn vị cần xây dựng danh mục kiểm tra cụ thể, phân định rõ trách nhiệm giữa các bên cung cấp dữ liệu và có công cụ kiểm tra chéo để sớm phát hiện các bất thường.
Theo Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg về danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính (cập nhật) có hiệu lực từ ngày 25/9/2026, cả nước có 2.441 cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê, trong đó, ngành công thương chiếm đa số (1.916 cơ sở)...
Trong ngành công thương, một số tỉnh/thành phố có số cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê lớn như: TP.Hồ Chí Minh (430 cơ sở); Tây Ninh (215 cơ sở); Đồng Nai (196 cơ sở); Bắc Ninh (149 cơ sở); Hưng Yên (126 cơ sở); Ninh Bình (106 cơ sở); Hải Phòng (89 cơ sở); Phú Thọ (82 cơ sở); Hà Nội (71 cơ sở); Thái Nguyên (45 cơ sở); tỉnh Quảng Ninh (55 cơ sở); Đà Nẵng (44 cơ sở); TP.Huế (24 cơ sở); Nghệ An (27 cơ sở); Thanh Hóa (31 cơ sở); Gia Lai (32 cơ sở); Quảng Ngãi (26 cơ sở);..


