Hỗ trợ gia đình sinh con gái: Thưởng tiền có làm giảm tâm lý 'phải có con trai'?
Trong các giải pháp nhằm kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh được Bộ Y tế đề xuất, chính sách khuyến khích, hỗ trợ gia đình sinh hai con gái đang đặt ra nhiều tranh luận.
LỜI TÒA SOẠN
Bộ Y tế đang lấy ý kiến về Dự thảo Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2026-2035, với mục tiêu đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên trong 10 năm tới.
VietNamNet thực hiện tuyến bài Giải bài toán mất cân bằng giới tính khi sinh, phân tích những khoảng trống, thách thức và các vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện trong Dự thảo Đề án thông qua ý kiến phản biện của các chuyên gia.
Trong Dự thảo Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2026-2035, Bộ Y tế đề xuất nghiên cứu, xây dựng các chính sách biểu dương, tôn vinh, hỗ trợ các gia đình sinh 2 con gái tiêu biểu, thực hiện tốt công tác dân số.
Dự thảo Đề án đặt ra việc nghiên cứu, đề xuất các hình thức hỗ trợ theo nhu cầu đối với từng nhóm đối tượng. Các địa phương cũng được hướng dẫn, khuyến khích xây dựng cơ chế biểu dương, khen thưởng kịp thời đối với gia đình sinh con gái chăm ngoan, học giỏi và thực hiện tốt chính sách giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh.

Theo các chuyên gia, đề xuất hỗ trợ gia đình sinh hai con gái cần được đặt trong toàn bộ chiến lược kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh. Ảnh: Thạch Thảo
GS.TS Giang Thanh Long (giảng viên cao cấp, Đại học Kinh tế Quốc dân - Hà Nội) và TS Trịnh Phương Thảo (giảng viên Khoa Công tác xã hội, Đại học Sư phạm Hà Nội) đều cho rằng cần nhìn chính sách này trong một tổng thể rộng hơn, thay vì coi hỗ trợ tài chính là giải pháp có thể trực tiếp làm thay đổi tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh.
Theo hai chuyên gia, gốc rễ của vấn đề không chỉ nằm ở việc một số gia đình có được tiếp cận công nghệ lựa chọn giới tính hay không mà sâu xa hơn là nhu cầu phải có con trai vẫn tồn tại trong đời sống xã hội. Nếu nhu cầu này không thay đổi, một khoản hỗ trợ đơn lẻ khó có thể tạo ra chuyển biến bền vững.
Không thể giản đơn thành chuyện “thưởng tiền sinh con gái”
TS Thảo cho rằng đề xuất hỗ trợ gia đình sinh hai con gái cần được đặt trong toàn bộ chiến lược kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh. Bên cạnh hỗ trợ, chúng ta cần đồng thời thay đổi chuẩn mực trọng nam, nâng cao vị thế của phụ nữ và trẻ em gái, kiểm soát lựa chọn giới tính thai nhi, cải thiện an sinh cho người cao tuổi và tăng cường giám sát dựa trên dữ liệu. Vì vậy, hỗ trợ gia đình có hai con gái không phải là giải pháp trung tâm mà chỉ nên là một công cụ trong gói chính sách rộng hơn,.
GS Long cũng cho rằng các giải pháp dừng ở mức "khuyến khích” khó tạo ra động lực thay đổi hành vi đủ mạnh. Ông đặt vấn đề cần có các công cụ kinh tế cụ thể hơn và một hệ sinh thái hỗ trợ rộng hơn cho gia đình, thay vì chỉ dựa vào truyền thông hay một chính sách đơn lẻ.
Tuy nhiên, việc sử dụng hỗ trợ tài chính cũng cần được nhìn nhận thận trọng.
TS Thảo dẫn kinh nghiệm quốc tế cho thấy chưa đủ cơ sở để mặc định tiền thưởng hay hỗ trợ tài chính là nguyên nhân trực tiếp làm giảm tỷ số giới tính khi sinh. Chẳng hạn, chương trình chuyển tiền có điều kiện Ladli dành cho cha mẹ có con gái tại Delhi (Ấn Độ) từng đi kèm những thay đổi trong tỷ số giới tính đăng ký, song các đánh giá cho rằng kết quả này có thể một phần phản ánh việc tăng đăng ký khai sinh trẻ em gái. Chưa có các nghiên cứu đủ để xác định riêng tác động của chương trình tới tỷ số giới tính khi sinh.
Tại Việt Nam, một số địa phương đã triển khai khen thưởng, biểu dương gia đình hoặc cộng đồng. Tuy nhiên, theo TS Thảo, số tiền đã chi, số gia đình được hỗ trợ hay số địa phương triển khai không thể tự động được xem là bằng chứng chính sách thành công, bởi chưa có số liệu định lượng xác định riêng mức độ tác động của các khoản khen thưởng đối với tỷ số giới tính khi sinh.
Do đó, nếu áp dụng chính sách hỗ trợ, ngay từ đầu, cơ quan chức năng cần xác định rõ chính sách nhằm thay đổi điều gì: tâm lý ưa con trai có giảm hay không, các gia đình có bớt sinh thêm chỉ vì chưa có con trai hay không, trẻ em gái có được đầu tư, chăm sóc, tạo cơ hội bình đẳng hơn hay không.
Ưu tiên con gái có phải là bất bình đẳng?
Một vấn đề khác là việc dành chính sách riêng cho gia đình có con gái có tạo ra sự bất bình đẳng ngược với trẻ em trai hay không.
TS Thảo cho rằng bình đẳng giới không có nghĩa mọi nhóm, trong mọi hoàn cảnh, đều phải nhận mức hỗ trợ giống nhau. Khi một nhóm đang chịu những bất lợi gắn với định kiến giới, việc dành thêm nguồn lực để khắc phục bất lợi đó không mặc nhiên là phân biệt đối xử.
Điều cần xem xét là sự ưu tiên đó có giúp thu hẹp khoảng cách về vị thế, quyền, cơ hội và mức thụ hưởng giữa hai giới hay không. Nếu nguồn lực bổ sung giúp trẻ em gái khắc phục những bất lợi do tư tưởng trọng nam tạo ra, đây có thể là biện pháp hướng tới bình đẳng thực chất. Tuy nhiên, TS Thảo cũng cảnh báo chính sách có thể phản tác dụng nếu vô tình củng cố suy nghĩ rằng sinh con gái là một thiệt thòi cần được “bù đắp”.
Đây cũng là điểm GS Long đặc biệt lưu ý. Theo ông, hỗ trợ tài chính cho gia đình sinh con gái cần được thiết kế thận trọng để không phát đi thông điệp rằng con gái cần được “đền bù”. Ông đặt ra nghịch lý: Nếu hỗ trợ tất cả trẻ em gái thì nguồn lực cần thiết sẽ rất lớn nhưng nếu chỉ hỗ trợ một nhóm gia đình nhất định thì có thể tạo ra tâm lý “đền bù”.
Có nhất thiết chỉ là gia đình hai con gái?
Đặt câu hỏi về tính khả thi và ranh giới của tiêu chí “gia đình có 2 con gái”, GS Long cho rằng cần làm rõ hàng loạt tình huống: Gia đình có 2 con gái nhưng thu nhập rất cao có cần hỗ trợ không? Một gia đình nghèo có một trai, một gái thì sao? Phụ nữ đơn thân nuôi 2 con gái có thuộc diện được hưởng? Nếu cha mẹ ly hôn hoặc sau đó sinh thêm con trai thì chính sách sẽ được áp dụng như thế nào?
TS Thảo cho rằng nếu tiếp tục duy trì nhóm đối tượng “gia đình sinh 2 con gái”, trước hết phải trả lời rõ chính sách nhằm đạt mục tiêu gì. Đó là để ngăn các gia đình tiếp tục sinh thêm chỉ vì chưa có con trai? Để tạo ra những hình mẫu phá vỡ quan niệm “phải có con trai”? Hay để hỗ trợ trẻ em gái đang chịu bất lợi?
Bà Thảo cũng cho rằng giá trị của trẻ em gái không nên được đánh giá bằng những tiêu chí như “học giỏi” hay “thành đạt”. Nếu mục tiêu là thúc đẩy bình đẳng giới, chính sách nên hướng tới việc bảo đảm quyền, cơ hội và mức thụ hưởng bình đẳng của trẻ em gái trong chăm sóc sức khỏe, giáo dục, phát triển năng lực và tiếp cận nguồn lực.

