Hòa giải cơ sở: Người dễ bị tổn thương được quyền đề nghị hỗ trợ, bảo vệ

Luật Hòa giải cơ sở (mới) cho phép người tham gia hòa giải đề nghị hòa giải viên kiến nghị cơ quan có thẩm quyền hỗ trợ, bảo vệ người dễ bị tổn thương.

 Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Cấn Đình Tài công bố Lệnh của Chủ tịch nước đối với các luật được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất

Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Cấn Đình Tài công bố Lệnh của Chủ tịch nước đối với các luật được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất

Ngày 10/9, tại Hà Nội, Văn phòng Chủ tịch nước công bố Lệnh của Chủ tịch nước đối với 15 luật được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất.

Trong số này, có những quy định tác động trực tiếp đến phụ nữ, trẻ em và các nhóm người dễ bị tổn thương, từ bảo vệ quyền trong hòa giải, tăng khả năng tiếp cận pháp luật đến phòng ngừa lừa đảo, mua bán người, bóc lột và cưỡng bức lao động.

Hòa giải phải bảo vệ người dễ bị tổn thương

Luật Hòa giải ở cơ sở số 16/2026/QH16 là luật mới, thay thế Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013.

Điểm đáng chú ý là luật yêu cầu hoạt động hòa giải phải bảo đảm tự nguyện, bình đẳng, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đồng thời bảo đảm bình đẳng giới. Hòa giải viên phải bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật, người cao tuổi và người dân tộc thiểu số.

Người tham gia hòa giải có thể đề nghị hòa giải viên kiến nghị cơ quan có thẩm quyền hỗ trợ, bảo vệ người dễ bị tổn thươngẢnh: Lan Phương

Người tham gia hòa giải có thể đề nghị hòa giải viên kiến nghị cơ quan có thẩm quyền hỗ trợ, bảo vệ người dễ bị tổn thươngẢnh: Lan Phương

Luật cũng quy định việc hòa giải không được áp đặt, không được bắt buộc các bên. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi hòa giải viên, từ chối hoặc chấm dứt hòa giải, yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Người tham gia hòa giải có thể đề nghị hòa giải viên kiến nghị cơ quan có thẩm quyền hỗ trợ, bảo vệ người dễ bị tổn thương.

Với các vụ việc có nguy cơ bạo lực, hòa giải viên phải phối hợp thực hiện biện pháp phòng ngừa; trường hợp nhận thấy mâu thuẫn, tranh chấp có thể dẫn đến bạo lực ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng, hòa giải viên có thể đề nghị cơ quan chức năng hỗ trợ bảo đảm an ninh, trật tự.

Luật đồng thời yêu cầu giữ bí mật thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình được cung cấp trong quá trình hòa giải.

Những quy định này đặc biệt có ý nghĩa trong các vụ việc gia đình và cộng đồng, nơi phụ nữ, trẻ em hoặc người có vị thế yếu hơn dễ chịu sức ép từ bên còn lại. Luật cũng quy định những trường hợp không được tiến hành hòa giải ở cơ sở.

Người bị bạo lực được mở rộng hỗ trợ tiếp cận pháp luật

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật số 12/2026/QH16 cũng là luật mới, thay thế Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012.

Luật dành riêng một mục về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù. Trong nhóm này có người dân tộc thiểu số; người ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người lao động trong khu công nghiệp, khu chế xuất và người có thu nhập thấp; người bị bạo lực, người có hành vi bạo lực trong vụ việc bạo lực gia đình, bạo lực học đường hoặc bạo lực khác; nạn nhân mua bán người; người khuyết tật; người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; người cao tuổi và một số nhóm khác.

Quy định này bao gồm cả phụ nữ bị bạo lực gia đình và trẻ em bị bạo lực học đường. Họ được xác định trong nhóm đối tượng cần có hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp.

Luật quy định việc hỗ trợ thông qua cung cấp thông tin, tập huấn, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng; đồng thời khuyến khích cung cấp dịch vụ pháp lý, dịch vụ liên quan đến pháp luật và hỗ trợ miễn phí theo quy định.

Đáng chú ý, người có hành vi bạo lực cũng nằm trong nhóm đối tượng đặc thù. Như vậy, chính sách phổ biến pháp luật không chỉ hướng tới người bị hại mà còn được đặt ra đối với người thực hiện hành vi bạo lực trong gia đình, trường học và các trường hợp khác.

Đối với trẻ em nói chung, luật quy định giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục phải phù hợp với từng cấp học, trình độ đào tạo.

Với những người dễ bị tổn thương, điểm đáng chú ý là khả năng tiếp cận pháp luật được đặt thành một nội dung cần hỗ trợ, thay vì chỉ cung cấp thông tin theo cách chung cho mọi đối tượng.

Đi làm việc nước ngoài: siết hành vi dễ dẫn đến bóc lột

Luật số 22/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Luật bổ sung các hành vi bị cấm như lôi kéo, dụ dỗ, hứa hẹn, cung cấp thông tin sai sự thật, quảng cáo hoặc tư vấn gian dối; thu tiền dịch vụ và các khoản thu không đúng quy định. Đặc biệt, cấm lợi dụng hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức xuất cảnh trái phép, mua bán người, bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật khác.

Luật còn bổ sung "công việc mát-xa" vào nhóm công việc không được tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; đồng thời quy định hạn chế đưa người lao động đến khu vực có chiến sự hoặc được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam khuyến cáo không đến hoặc hạn chế đến.

Trước khi xuất cảnh, người lao động phải được cung cấp thông tin về số lượng tuyển, tiêu chuẩn, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ. Thời gian chờ xuất cảnh phải được cam kết bằng văn bản, tối đa 180 ngày; doanh nghiệp không thực hiện đúng cam kết phải bồi thường, hoàn trả theo quy định.

Khi người lao động đã ở nước ngoài, doanh nghiệp phải quản lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, phối hợp giải quyết vấn đề phát sinh. Khi xảy ra tình trạng ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, luật quy định cơ chế thông tin, báo cáo, phối hợp xử lý. Người lao động có nhu cầu được tư vấn, hỗ trợ tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý.

Luật cũng quy định chính sách hỗ trợ đối với người lao động là người dân tộc thiểu số, người cư trú tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn khi đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và khi trở về.

Văn bản này không có quy định riêng về lao động nữ. Vì vậy, tác động tới phụ nữ nên được nhìn từ các quy định chung về phòng ngừa mua bán người, bóc lột, cưỡng bức lao động và cơ chế hỗ trợ khi người lao động gặp rủi ro. Cả 3 luật đều có hiệu lực từ ngày 1/3/2027.

Quang Chiến

Nguồn Phụ Nữ VN: https://phunuvietnam.vn/hoa-giai-co-so-nguoi-de-bi-ton-thuong-duoc-quyen-de-nghi-ho-tro-bao-ve-238260910121240081.htm