Hoàn thiện hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo
Để hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo phát triển bền vững, Việt Nam cần đồng thời hoàn thiện thể chế, hạ tầng và cơ chế liên kết giữa các chủ thể. Đây là chìa khóa để rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thị trường, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Sản phẩm công nghệ của doanh nghiệp được giới thiệu tại Hội nghị Khoa học và Triển lãm quốc tế về Điều khiển và Tự động hóa lần thứ 8. (Ảnh: HỘI TỰ ĐỘNG HÓA)
Với mục tiêu đến năm 2030 trở thành quốc gia dẫn đầu khu vực về khởi nghiệp sáng tạo, đến năm 2045 thuộc nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo, Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo.
Dấu mốc quan trọng là việc Chính phủ ban hành Nghị quyết số 86/NQ-CP về Chiến lược quốc gia khởi nghiệp sáng tạo - chiến lược đầu tiên dành riêng cho lĩnh vực này, hướng tới xây dựng hệ sinh thái đồng bộ và khơi dậy làn sóng khởi nghiệp trên phạm vi cả nước.
Trên nền tảng đó, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo đã có nhiều chuyển biến tích cực với sự xuất hiện của các doanh nghiệp “kỳ lân”, dòng vốn đầu tư mạo hiểm duy trì ở nhóm dẫn đầu khu vực và mạng lưới các quỹ đầu tư, vườn ươm, tổ chức thúc đẩy kinh doanh, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp ngày càng được mở rộng và hoàn thiện.
Một trong những mô hình tiêu biểu là hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Tập đoàn Phenikaa, được xây dựng theo chu trình khép kín, kết nối chặt chẽ giữa đào tạo, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa.
Trong mô hình này, đào tạo cung cấp nguồn nhân lực và ý tưởng cho nghiên cứu; nghiên cứu tạo ra tri thức mới để nâng cao chất lượng đào tạo, đồng thời thúc đẩy hình thành các doanh nghiệp khởi nghiệp và doanh nghiệp spin-off.
Hệ sinh thái được vận hành trên nền tảng con người, công nghệ và hệ thống, cùng sự hỗ trợ của các trung tâm đổi mới sáng tạo, quỹ đầu tư và cơ chế “kiêm nhiệm”, giúp gắn kết hoạt động giảng dạy, nghiên cứu và sản xuất.
Đáng chú ý, các công nghệ mới đều được thử nghiệm ngay tại các đơn vị thành viên trước khi thương mại hóa, qua đó rút ngắn đáng kể khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường.
Mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam vẫn chưa phát huy hết tiềm năng. Điểm nghẽn hiện nay không còn nằm ở năng lực nghiên cứu hay phát triển công nghệ, mà chủ yếu ở khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm và giá trị thương mại.
Theo ông Trần Xuân Đích, Phó Cục trưởng Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), Việt Nam không thiếu doanh nghiệp có năng lực kỹ thuật, đội ngũ kỹ sư chất lượng cao và khả năng tiếp cận nhanh với công nghệ tiên tiến trên thế giới.
Vấn đề nằm ở chỗ các khâu thử nghiệm sản phẩm, kiểm định, tiêu chuẩn hóa, thương mại hóa, xây dựng thương hiệu và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng quốc tế vẫn còn là những mắt xích yếu.
Đây là giai đoạn mang tính quyết định, bởi chỉ khi vượt qua được điểm nghẽn này, công nghệ mới có thể bước ra khỏi phòng thí nghiệm, trở thành sản phẩm có sức cạnh tranh, tạo ra giá trị thực cho nền kinh tế.
Thực tiễn cho thấy, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo chỉ có thể phát triển bền vững khi được xây dựng trên nền tảng thể chế đồng bộ, hạ tầng công nghệ hiện đại và sự liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học cùng các quỹ đầu tư. Đây cũng là những nền tảng Việt Nam đang từng bước hoàn thiện để tạo động lực tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Từ góc độ doanh nghiệp, đại diện Công ty cổ phần Quốc tế Sơn Hà cho rằng, cần tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp và các viện nghiên cứu trong phát triển, chuyển giao và thương mại hóa công nghệ.
Trong khi đó, từ khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp ở Thâm Quyến (Trung Quốc), ông Trần Xuân Đích cho biết, thành công của các doanh nghiệp công nghệ nơi đây không đến từ những nỗ lực riêng lẻ, mà từ một hệ sinh thái liên kết chặt chẽ, bao trùm toàn bộ chuỗi giá trị từ nghiên cứu, phát triển (R&D), thiết kế, sản xuất thử nghiệm, kiểm định đến thương mại hóa và mở rộng thị trường.
Trong hệ sinh thái đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, doanh nghiệp dẫn dắt thị trường, trường đại học và viện nghiên cứu cung cấp tri thức, còn các quỹ đầu tư đồng hành, chia sẻ rủi ro và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Từ kinh nghiệm này, ông cho rằng, Việt Nam có thể nghiên cứu, lựa chọn và triển khai thí điểm một số mô hình phù hợp. Trước hết, cần phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tích hợp, kết nối doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu, quỹ đầu tư và các tổ chức hỗ trợ trong một không gian phát triển thống nhất.
Điều cốt lõi không chỉ là đầu tư hạ tầng, mà còn phải thiết lập cơ chế phối hợp hiệu quả nhằm rút ngắn chu trình từ nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất đến thương mại hóa sản phẩm. Cần ưu tiên phát triển các hạ tầng công nghệ dùng chung như trung tâm thử nghiệm, kiểm định, tiêu chuẩn hóa, phòng thí nghiệm mở và trung tâm thiết kế, chế tạo mẫu.
Đây là những hạ tầng thiết yếu giúp doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa giảm chi phí đầu tư, đẩy nhanh quá trình hoàn thiện sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, Việt Nam cần xây dựng cơ chế để các doanh nghiệp công nghệ lớn giữ vai trò “đầu tàu” của hệ sinh thái thông qua đặt hàng nghiên cứu, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, chuyển giao công nghệ và hình thành các chuỗi cung ứng trong nước.
Trên cơ sở kết quả khảo sát và nghiên cứu thực tiễn, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tiếp tục tham mưu Chính phủ hoàn thiện các chính sách phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia theo hướng đồng bộ, hiện đại và gắn kết chặt chẽ hơn giữa nghiên cứu, đổi mới sáng tạo với sản xuất, kinh doanh.
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/hoan-thien-he-sinh-thai-khoi-nghiep-sang-tao-post977530.html












