Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt
HNN.VN - Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, ngày 8/8, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Doãn Anh.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Doãn Anh điều hành phiên thảo luận. Ảnh: Đoàn ĐBQH thành phố cung cấp
Các đại biểu cơ bản thống nhất cao với nhiều nội dung đã được tiếp thu, chỉnh lý trong dự thảo luật, đặc biệt là các quy định về quản lý theo rủi ro, kiểm soát hàng hóa và công nghệ lưỡng dụng, người sử dụng cuối cùng, mục đích sử dụng cuối cùng, kiểm soát ngoài danh mục, phòng chống tài trợ phổ biến, chia sẻ dữ liệu và thanh tra, kiểm tra. Nhiều ý kiến đề nghị tiếp tục hoàn thiện dự thảo theo hướng vừa đủ mạnh để ứng phó với các nguy cơ đặc biệt nghiêm trọng, vừa bảo đảm xác định rõ thẩm quyền và giới hạn can thiệp của Nhà nước.
Quy định chặt chẽ nhưng không cản trở hoạt động hợp pháp
Tham gia thảo luận, Phó Trưởng đoàn ĐBQH chuyên trách TP. Huế Nguyễn Thị Sửu cho rằng, dự thảo đã có bước tiến đáng kể, đặc biệt trong các nội dung quản lý theo rủi ro, kiểm soát hàng hóa và công nghệ, người sử dụng cuối cùng, mục đích sử dụng cuối cùng, kiểm soát ngoài danh mục, phòng chống phổ biến, chia sẻ dữ liệu và thanh tra, kiểm tra.
Đại biểu đề nghị tiếp tục hoàn thiện dự thảo theo hướng “vừa đủ mạnh trước những nguy cơ đặc biệt nghiêm trọng, vừa đủ chính xác trong việc xác lập thẩm quyền và giới hạn can thiệp của Nhà nước”.
Theo đại biểu, khi bổ sung hàng hóa, công nghệ, phần mềm hoặc dịch vụ vào danh mục cần cân nhắc đồng thời mức độ rủi ro, khả năng bị lợi dụng, yêu cầu quản lý và tác động đến hoạt động nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh hợp pháp.
Về Điều 13, đại biểu Nguyễn Thị Sửu đồng tình với việc mở rộng kiểm soát đối với dữ liệu kỹ thuật, mã nguồn, bản vẽ, quy trình, bí quyết công nghệ và hoạt động đào tạo, tư vấn kỹ thuật, kể cả qua môi trường điện tử hoặc chuyển giao phi vật thể xuyên biên giới. Tuy nhiên, bà đề nghị quy định rõ giới hạn áp dụng, chỉ kiểm soát khi đối tượng thuộc danh mục hoặc có căn cứ áp dụng cơ chế kiểm soát ngoài danh mục theo Điều 15, tránh bao trùm cả hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo, hợp tác công nghệ và trao đổi dữ liệu hợp pháp.

Đại biểu Nguyễn Thị Sửu tham gia thảo luận. Ảnh: Đoàn ĐBQH thành phố cung cấp
Đối với cơ chế kiểm soát ngoài danh mục, đại biểu đánh giá cao việc dự thảo yêu cầu căn cứ rủi ro phải cụ thể, có khả năng kiểm chứng, không dựa trên suy đoán hoặc thông tin chưa được xác minh. Bà đề nghị bổ sung nguyên tắc biện pháp kiểm soát ngoài danh mục phải cần thiết, tương xứng với tính chất, mức độ rủi ro và chỉ áp dụng trong phạm vi, thời gian cần thiết. Theo bà, danh mục là nguyên tắc, còn ngoài danh mục là ngoại lệ; ngoại lệ càng phải được quy định chặt chẽ để bảo đảm tính minh bạch và khả năng dự liệu của pháp luật.
Tiếp thu, giải trình và làm rõ một số vấn đề đại biểu nêu, Đại tướng Phan Văn Giang, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, cho biết Chính phủ và cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ tiếp tục rà soát, chỉnh lý dự thảo luật trên cơ sở các ý kiến đóng góp tại nghị trường.
Theo Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang, quá trình tiếp thu, chỉnh lý sẽ quán triệt ba yêu cầu lớn: Bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia nhưng không cản trở hoạt động dân sự, sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo hợp pháp; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhưng không làm phát sinh thủ tục, giấy phép, chế độ báo cáo hoặc các nghĩa vụ tuân thủ trùng lặp; đồng thời quy định rõ ngay trong luật những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ, căn cứ, thẩm quyền, thời hạn và giới hạn khi áp dụng các biện pháp, không giao quy định chi tiết theo hướng mở rộng thẩm quyền hoặc hạn chế quyền ngoài phạm vi luật định.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên điều hành phiên thảo luận chiều 8/8. Ảnh: Đoàn ĐBQH thành phố cung cấp
Ưu đãi đầu tư dầu khí cần có giới hạn và điểm kết thúc
Chiều cùng ngày Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi). Tham gia thảo luận, đại biểu Nguyễn Thị Sửu, Phó Trưởng đoàn ĐBQH TP. Huế, cho rằng dự thảo đã được tiếp thu, chỉnh lý theo nhiều ý kiến của đại biểu Quốc hội. Tuy nhiên, để vừa tạo môi trường đầu tư thông thoáng, vừa bảo đảm quản lý chặt chẽ tài sản công và lợi ích quốc gia, bà tập trung góp ý ba nội dung.
Về phân quyền cho Tập đoàn Công nghiệp Năng lượng Quốc gia Việt Nam, đại biểu nhấn mạnh càng giao quyền lớn càng phải có cơ chế kiểm soát tương xứng. Theo dự thảo, Tập đoàn được giao thực hiện quyền và nghĩa vụ của nước chủ nhà, quản lý và giám sát hợp đồng dầu khí, đồng thời tham gia thẩm tra, phê duyệt và quyết toán chi phí của nhà thầu.
Đại biểu cho rằng chỉ dựa vào cơ chế hậu kiểm là chưa đủ để kiểm soát rủi ro đối với tài sản và lợi ích nhà nước. Vì vậy, cần phân định rõ giữa chức năng đại diện nước chủ nhà với hoạt động đầu tư, kinh doanh của Tập đoàn và các doanh nghiệp do Tập đoàn sở hữu. Đối với các quyết định có thể làm thay đổi đáng kể trữ lượng, tổng mức đầu tư, chi phí được thu hồi hoặc nghĩa vụ tài chính, cần có cơ chế thẩm định hoặc kiểm tra trước của cơ quan quản lý nhà nước.
Về mức thu hồi chi phí và ưu đãi đầu tư, đại biểu lưu ý dự thảo đang thiết kế các cơ chế ưu đãi khá mạnh, với mức thu hồi chi phí lên tới 70% đối với lô, mỏ được ưu đãi và 80% đối với trường hợp ưu đãi đặc biệt; riêng mỏ cận biên còn được phép sử dụng toàn bộ phần dầu khí còn lại để thu hồi chi phí.
Đại biểu đồng tình với mục tiêu thu hút đầu tư vào các mỏ cận biên và khu vực có điều kiện địa chất phức tạp, nhưng cho rằng mức thu hồi chi phí không chỉ là vấn đề kỹ thuật dòng tiền mà còn quyết định thời điểm Nhà nước bắt đầu nhận được lợi ích từ dự án. Vì vậy, cần bảo đảm ưu đãi đúng đối tượng, đúng mức và đúng thời điểm, tránh để ưu đãi kéo dài quá mức cần thiết.
Về cơ chế chia sẻ rủi ro, đại biểu cho rằng cần chia sẻ rủi ro khách quan của hoạt động dầu khí nhưng không chuyển rủi ro quản trị doanh nghiệp sang nguồn lực nhà nước. Theo bà, cần phân biệt rõ rủi ro địa chất, kỹ thuật, thương mại với các trường hợp quyết định đầu tư sai, vi phạm quy trình hoặc lỗi chủ quan.
“Nếu không quy định rõ, cơ chế chia sẻ rủi ro có thể dẫn tới tình trạng xã hội hóa tổn thất nhưng tư nhân hóa lợi ích”, đại biểu Nguyễn Thị Sửu nhấn mạnh.











