Hoàn thiện pháp lý để thúc đẩy ứng dụng công nghệ chỉnh sửa gen trong nông nghiệp
Việt Nam đã bước đầu thiết lập cơ chế quản lý sinh vật chỉnh sửa gen, song cần tiếp tục hoàn thiện quy định về khảo nghiệm, công nhận và lưu hành giống để thúc đẩy ứng dụng công nghệ này trong nông nghiệp.
Đây là một trong những vấn đề trọng tâm tại Hội thảo “Ứng dụng chỉnh sửa gen trong cây trồng, thủy sản và đối thoại về khung pháp lý tại Việt Nam”, do Vụ Khoa học công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành (ICISE) và Viện Sinh học tổ chức ngày 3/11 tại Quy Nhơn.

Các đại biểu tham dự Hội thảo “Ứng dụng chỉnh sửa gen trong cây trồng, thủy sản và đối thoại về khung pháp lý tại Việt Nam”
Sự kiện nằm trong khuôn khổ Hội nghị quốc tế Frontiers in Genome Engineering 2026, thu hút hơn 100 đại biểu từ các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và tổ chức trong nước, quốc tế.
Công nghệ chỉnh sửa gen mở ra cơ hội mới cho nông nghiệp
Phát biểu tại hội thảo, TS. Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho biết Việt Nam xác định khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực quan trọng để phát triển nông nghiệp. Trong đó, công nghệ chỉnh sửa gen được xác định là một trong những công cụ quan trọng để phát triển giống cây trồng, vật nuôi và nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất nông nghiệp.

TS. Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ phát biểu
Đặc biệt, chỉnh sửa gen bằng CRISPR/Cas cho phép tạo ra những thay đổi di truyền có chủ đích, hỗ trợ nghiên cứu các tính trạng mong muốn và phát triển giống theo mục tiêu. Công nghệ này mở ra cơ hội ứng dụng đối với nhiều cây trồng chủ lực của Việt Nam như lúa, cà phê, chuối.
Theo TS. Nguyễn Văn Long, thời gian qua, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tích cực tham mưu hoàn thiện khung pháp lý về quản lý sinh vật chỉnh sửa gen.
Đáng chú ý, Luật số 146/2025/QH15, được Quốc hội thông qua năm 2025 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, đã phân biệt rõ hai khái niệm sinh vật biến đổi gen và sinh vật chỉnh sửa gen, tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý phù hợp với đặc tính của từng nhóm.

TS. Chase Beisel giới thiệu nền tảng công nghệ CRISPR
Tiếp đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 43/2026/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung một số quy định về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, tiếp tục cụ thể hóa các quy định liên quan đến hai nhóm sinh vật này.
Chia sẻ tại hội thảo, các chuyên gia quốc tế cho biết, chỉnh sửa gen cho phép tạo ra những thay đổi chính xác, có chủ đích trong hệ gen của sinh vật. Nhờ đó, các nhà khoa học có thể phát triển giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản có khả năng kháng bệnh, thích ứng tốt hơn với hạn hán, xâm nhập mặn và nhiệt độ cao; đồng thời cải thiện năng suất, chất lượng dinh dưỡng, thời gian bảo quản và hiệu quả sử dụng tài nguyên.

TS. Zexia Gao trình bày về ứng dụng chỉnh sửa gen trên thủy sản
Những đặc tính này có ý nghĩa quan trọng đối với nông nghiệp Việt Nam, trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng tác động rõ nét đến sản xuất, trong khi yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng và phát triển bền vững ngày càng cấp thiết.
Cũng theo các chuyên gia, trên thế giới, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ chỉnh sửa gen đang phát triển nhanh, mở rộng từ cây trồng sang chăn nuôi, thủy sản và vi sinh vật.
Các hướng nghiên cứu không dừng ở việc tăng khả năng chống chịu của sinh vật mà còn tập trung giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao giá trị dinh dưỡng, chất lượng sản phẩm và đáp ứng nhu cầu thị trường.

T.S Tan Meng How trình bày về chỉnh sửa gen ở mức độ phiên mã
Làm rõ quy trình khảo nghiệm, công nhận và lưu hành giống chỉnh sửa gen
Cùng với tiềm năng ứng dụng, công nghệ chỉnh sửa gen đặt ra những yêu cầu mới về quản lý và bảo đảm an toàn sinh học.
Theo TS. Nguyễn Văn Long, mỗi sản phẩm có đặc tính riêng, đòi hỏi nghiên cứu, đánh giá kỹ những thay đổi di truyền, sự hiện diện của vật liệu di truyền ngoại lai, tính trạng biểu hiện và mục đích sử dụng để xác định nguy cơ, mức độ rủi ro.

Các đại biểu tham dự hội thảo
Đây là vấn đề phải được xem xét trên cơ sở khoa học, tham khảo kinh nghiệm quốc tế và ý kiến chuyên gia để xây dựng cơ chế quản lý phù hợp nhằm vừa bảo đảm an toàn sinh học, vừa tạo điều kiện đưa thành tựu nghiên cứu vào sản xuất, Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ và Môi trường nhấn mạnh.
Cập nhật tiến trình pháp lý toàn cầu đối với cây trồng chỉnh sửa gen, TS. Michael Leader, Nhóm công tác về Công nghệ lai tạo đổi mới (PBI), CropLife Châu Á cho biết, nhiều quốc gia trên thế giới đang xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý rủi ro của các sản phẩm chỉnh sửa gen. Xu hướng chung là đánh giá đặc tính của sản phẩm cuối cùng thay vì chỉ dựa vào phương pháp tạo ra sản phẩm.

Các chuyên gia quốc tế chia sẻ bức tranh pháp lý toàn cầu về nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa cây trồng chỉnh sửa gen
"Nhìn chung, cơ quan quản lý đánh giá sản phẩm cuối cùng có hay không có DNA ngoại lai để xác định sản phẩm thuộc diện GMO hay thông thường", TS. Michael Leader nói.
Theo đó, những sản phẩm chỉnh sửa gen không chứa DNA ngoại lai và có đặc điểm tương tự sản phẩm có thể được tạo ra bằng phương pháp lai tạo thông thường có thể không phải chịu cơ chế quản lý như sinh vật biến đổi gen.
Cách tiếp cận này giúp bảo đảm an toàn, đồng thời tạo điều kiện để hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa sản phẩm được triển khai nhanh chóng, minh bạch và có tính dự đoán cao hơn.

Các chuyên gia Việt Nam chia sẻ về tiến trình ứng dụng cây trồng chỉnh sửa gen tại Việt Nam
Theo đánh giá của các chuyên gia, pháp luật về đa dạng sinh học của Việt Nam đã bước đầu thiết lập cơ chế để tổ chức, cá nhân tự xác định sản phẩm chỉnh sửa gen không chứa DNA ngoại lai và thực hiện báo cáo với cơ quan quản lý nhà nước. Đây là cách tiếp cận có nhiều điểm tương đồng với xu hướng quản lý đang được áp dụng tại một số quốc gia.
Tuy nhiên, sau khi hoàn thành việc tự xác định và báo cáo theo hệ thống pháp luật về đa dạng sinh học, các bước tiếp theo để khảo nghiệm, công nhận và đưa giống chỉnh sửa gen vào lưu hành vẫn cần được hướng dẫn rõ ràng hơn trong hệ thống pháp luật chuyên ngành .
Các chuyên gia cho rằng, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý dựa trên cơ sở khoa học, tương xứng với mức độ rủi ro của từng sản phẩm và đủ linh hoạt để thích ứng với tốc độ phát triển của công nghệ.

TS. Michael Leader, Nhóm công tác về Công nghê lai tạo đổi mới (PBI), CropLife Châu Á, cho biết, nhìn chung, cơ quan quản lý đánh giá sản phẩm cuối cùng có hay không có DNA ngoại lai để xác định sản phẩm thuộc diện GMO hay thông thường
Cơ chế này cũng cần bảo đảm tính minh bạch, khả năng dự đoán trong thực hiện thủ tục, qua đó tạo thuận lợi cho các tổ chức nghiên cứu, doanh nghiệp tiếp nhận, phát triển và ứng dụng công nghệ mới.
Theo các chuyên gia, đây sẽ là nền tảng quan trọng để Việt Nam tiếp nhận thành tựu khoa học, thúc đẩy hợp tác và chuyển giao công nghệ, hỗ trợ các kết quả nghiên cứu trong nước sớm tiếp cận thị trường và đóng góp thiết thực cho sản xuất nông nghiệp.
Trao đổi tại hội thảo, TS. Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết Bộ đang nghiên cứu, xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với một số loại cây trồng được tạo ra bằng công nghệ chỉnh sửa gen, để báo cáo và trình Chính phủ xem xét.

