Học giả Campuchia: Việt Nam và Campuchia cần chuyển hóa niềm tin chính trị thành những giá trị thiết thực

Nhân chuyến thăm chính thức Campuchia của Thủ tướng Lê Minh Hưng, nhà nghiên cứu Uch Leang có bài viết đăng trên Cổng thông tin điện tử của Học viện Hoàng gia Campuchia, trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ chuyển hóa niềm tin chính trị và tình hữu nghị truyền thống giữa hai đất nước thành những kết quả hợp tác thiết thực.

Nhà nghiên cứu Uch Leang - quyền Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu Á-Phi và Trung Đông, Học viện Quan hệ Quốc tế Campuchia, Viện Hàn lâm Hoàng gia Campuchia, Chủ tịch Hội cựu sinh viên Campuchia từng học tại Việt Nam. (Ảnh: HUY VŨ)

Nhà nghiên cứu Uch Leang - quyền Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu Á-Phi và Trung Đông, Học viện Quan hệ Quốc tế Campuchia, Viện Hàn lâm Hoàng gia Campuchia, Chủ tịch Hội cựu sinh viên Campuchia từng học tại Việt Nam. (Ảnh: HUY VŨ)

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Campuchia Hun Manet, Thủ tướng Lê Minh Hưng sẽ dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm chính thức Vương quốc Campuchia từ ngày 9-10/10/2026.

Bài viết của nhà nghiên cứu Uch Leang - quyền Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu Á-Phi và Trung Đông, Học viện Quan hệ Quốc tế Campuchia, Viện Hàn lâm Hoàng gia Campuchia, Chủ tịch Hội cựu sinh viên Campuchia từng học tại Việt Nam, nhấn mạnh ý nghĩa chuyến thăm chính thức Campuchia của Thủ tướng Lê Minh Hưng, đánh giá cao sự kiện diễn ra trong thời điểm quan trọng đối với quan hệ Việt Nam-Campuchia, khi hai nước hướng tới kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 2027.

Chuyến thăm là dịp để hai bên nhìn lại những thành quả của quan hệ song phương, đồng thời xác định các chiến lược nhằm cụ thể hóa niềm tin chính trị và tình hữu nghị truyền thống thành những lợi ích cụ thể cho các thế hệ tương lai.

Mở đầu bài viết, tác giả Uch Leang tái khẳng định, quan hệ Campuchia-Việt Nam trải qua sáu thập niên xây dựng và vun đắp, trên nền tảng “quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện và bền vững lâu dài”.

Tuy nhiên, trong bối cảnh khu vực và thế giới không ngừng thay đổi, việc duy trì quan hệ hữu nghị không chỉ dừng ở việc kế thừa lịch sử, mà cần được thể hiện thông qua những kết quả hợp tác thiết thực, nhất là trong phát triển kinh tế, tăng cường kết nối, bảo đảm an ninh và cải thiện đời sống người dân.

Học giả Campuchia đề cập tới hợp tác thương mại, một trong những trọng tâm trong quan hệ giữa hai nước. Năm 2025, kim ngạch thương mại song phương đạt mức kỷ lục 11,33 tỷ USD, trong khi 8 tháng đầu năm 2026 đạt 8,67 tỷ USD, tăng 8,3% so cùng kỳ năm trước. Nếu đà tăng trưởng được duy trì, thương mại hai chiều có thể tiến gần mốc 13 tỷ USD trong năm 2026, tạo cơ sở hướng tới mục tiêu 20 tỷ USD trong thời gian tới.

Tuy nhiên, mục tiêu 20 tỷ USD không nên chỉ được nhìn nhận dưới góc độ con số. Bài viết cho rằng, việc hiện thực hóa mục tiêu này đòi hỏi hai nước cần tiếp tục tháo gỡ các trở ngại về chi phí logistics, thủ tục hải quan, vận tải, tiếp cận thị trường và hoạt động thương mại qua biên giới.

Quan hệ thương mại trong giai đoạn mới cần chuyển từ tăng quy mô sang nâng cao chất lượng, đồng thời hình thành các chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất xuyên biên giới. Trong đó, thế mạnh về nông sản, nguyên liệu của Campuchia có thể kết hợp năng lực chế biến, sản xuất, logistics và phân phối của Việt Nam để tạo thêm giá trị cho cả hai nền kinh tế.

Về đầu tư, Việt Nam hiện có hơn 200 dự án tại Campuchia, với tổng vốn đăng ký khoảng hơn 3,4 tỷ USD, hoạt động trong nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, tài chính-ngân hàng, viễn thông, hàng không, chế biến, thương mại và dịch vụ.

Theo nhận định của tác giả Uch Leang, giai đoạn tới cần chú trọng hơn đến hiệu quả phát triển của các dự án, thông qua tăng cường liên kết với doanh nghiệp và người lao động Campuchia, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển năng lực chế biến trong nước.

Kết nối hạ tầng được xác định là một động lực quan trọng khác để biến quan hệ chính trị thành giá trị kinh tế. Bài viết dẫn lại định hướng được Thủ tướng Campuchia Hun Manet nêu hồi tháng 6 vừa qua về tăng cường kết nối giữa cao tốc Phnom Penh-Bavet của Campuchia với tuyến cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh-Mộc Bài của Việt Nam, đồng thời cải thiện kết nối đường thủy, đường hàng không và các thủ tục vận chuyển hàng hóa qua biên giới. Theo đó, hành lang Phnom Penh-Bavet-Mộc Bài-Thành phố Hồ Chí Minh có thể trở thành một tuyến giao thương quan trọng kết nối Campuchia với khu vực phía nam Việt Nam cũng như vươn tới các thị trường rộng lớn hơn.

Cùng với xây dựng đường sá, hai bên cần phát triển các trung tâm logistics, kho bãi, hạ tầng cửa khẩu, hệ thống hải quan số và đơn giản hóa thủ tục. Mục tiêu không chỉ là rút ngắn khoảng cách địa lý mà còn giảm chi phí kinh tế và thủ tục hành chính trong hoạt động thông quan biên giới.

Bài viết nhan đề "Chuyến thăm của Thủ tướng Lê Minh Hưng: Biến lòng tin chính trị thành lợi ích thiết thực" của nhà nghiên cứu Uch Leang, đăng trên Cổng thông tin điện tử của Học viện Hoàng gia Campuchia. (Ảnh chụp màn hình)

Bài viết nhan đề "Chuyến thăm của Thủ tướng Lê Minh Hưng: Biến lòng tin chính trị thành lợi ích thiết thực" của nhà nghiên cứu Uch Leang, đăng trên Cổng thông tin điện tử của Học viện Hoàng gia Campuchia. (Ảnh chụp màn hình)

Theo đánh giá của nhà nghiên cứu Uch Leang, du lịch và giao lưu nhân dân cũng là những lĩnh vực có khả năng tạo ra lợi ích trực tiếp. Việt Nam là thị trường khách quốc tế lớn nhất của Campuchia trong năm 2025, với hơn 1,22 triệu lượt khách Việt Nam đến Campuchia; trong khi hơn 687.000 lượt khách Campuchia đến Việt Nam.

Những dòng người qua lại này cho thấy quan hệ hai nước không chỉ được vun đắp giữa các cơ quan chính phủ mà còn thông qua du lịch, kinh doanh, giáo dục, quan hệ gia đình và giao lưu văn hóa. Hai nước có thể tiếp tục phát triển các sản phẩm du lịch chung, các tuyến du lịch di sản xuyên biên giới và các hành trình kết nối Thành phố Hồ Chí Minh-Phnom Penh-Siem Reap.

Trong lĩnh vực an ninh, hợp tác song phương được cho là cần thích ứng với những thách thức phi truyền thống ngày càng phức tạp, như tội phạm xuyên quốc gia, buôn bán ma túy, mua bán người, tội phạm mạng,lừa đảo trực tuyến, rửa tiền và buôn lậu.

Việc tăng cường chia sẻ thông tin, phối hợp thực thi pháp luật, điều tra chung và xây dựng cơ chế phản ứng nhanh sẽ góp phần bảo đảm lợi ích của cả hai nước, đồng thời hỗ trợ các nỗ lực chung của ASEAN trong ứng phó tội phạm xuyên quốc gia.

Đối với khu vực biên giới, bài viết đề xuất nhìn nhận đây không chỉ là địa bàn bảo đảm an ninh mà còn là không gian phát triển kinh tế và xã hội. Hai nước đã hoàn thành khoảng 84% công tác phân giới, cắm mốc trên đất liền, phần còn lại tiếp tục được xử lý thông qua các cơ chế song phương. Song song với nhiệm vụ duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác phát triển thì thương mại biên giới, logistics, y tế, giáo dục, du lịch và nông nghiệp được kỳ vọng tạo thêm việc làm, thu nhập cho cộng đồng dân cư khu vực biên giới.

Học giả thuộc Viện Hàn lâm Hoàng gia Campuchia cũng lưu ý việc giáo dục và bồi đắp cho thế hệ trẻ cần phải được ưu tiên, mang ý nghĩa bền vững lâu dài. Các chương trình học bổng, đào tạo dành cho sinh viên và cán bộ Campuchia tại Việt Nam đã góp phần phát triển nguồn nhân lực và hình thành mạng lưới những người hiểu biết về hai nước.

Giai đoạn tới, hợp tác có thể được mở rộng sang các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, khoa học-công nghệ, y tế, nông nghiệp thông minh và quản trị công, đồng thời thúc đẩy nghiên cứu chung về lịch sử, quan hệ quốc tế, ASEAN và những vấn đề mới nổi của khu vực.

Nhìn về chặng đường phía trước, bài viết cho rằng kỷ niệm 60 năm quan hệ ngoại giao vào năm 2027 không chỉ là dịp hai nước nhìn lại lịch sử mà còn cần trở thành nền tảng xác định nội dung hợp tác cho những thập niên tiếp theo. Các ưu tiên được nêu gồm nâng cao chất lượng thương mại, tăng cường liên kết đầu tư, đẩy nhanh kết nối hạ tầng, tạo thuận lợi cho lưu thông qua biên giới, phát triển các địa bàn biên giới, mở rộng du lịch và giao lưu nhân dân, phối hợp phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia và đầu tư cho giáo dục, thế hệ trẻ.

Nhà nghiên cứu Uch Leang nhận định, thách thức đối với Campuchia và Việt Nam trong giai đoạn mới không còn nằm ở việc chứng minh tình hữu nghị giữa hai đất nước, bởi nền tảng đó đã được vun đắp qua sáu thập niên.

Vấn đề quan trọng hơn là làm thế nào để niềm tin chính trị được chuyển hóa thành những kết quả cụ thể, có thể đo lường và mang lại lợi ích thiết thực, lâu dài cho người dân hai nước.

ĐINH TRƯỜNG-HUY VŨ Phóng viên Báo Nhân Dân thường trú tại Campuchia

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/hoc-gia-campuchia-viet-nam-va-campuchia-can-chuyen-hoa-niem-tin-chinh-tri-thanh-nhung-gia-tri-thiet-thuc-post993462.html