Học giả Trung Quốc Phan Kim Nga đánh giá cao kết quả của Đại hội XIV
Nhân dịp Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam bế mạc và thành công tốt đẹp, phóng viên Báo Nhân Dân thường trú tại Trung Quốc có cuộc phỏng vấn giáo sư Phan Kim Nga, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc về kết quả của Đại hội XIV cũng như triển vọng phát triển của Việt Nam và quan hệ Việt-Trung trong thời gian tới.

Học giả Phan Kim Nga (bên trái) trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân thường trú tại Trung Quốc.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn giáo sư Phan Kim Nga đã trả lời phỏng vấn của Báo Nhân Dân. Là chuyên gia hàng đầu nghiên cứu về chủ nghĩa Mác và quan hệ Việt-Trung, bà đánh giá như thế nào về kết quả của Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam?
Giáo sư Phan Kim Nga: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sự kiện mang tính lịch sử then chốt diễn ra trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế phức tạp. Đại hội không chỉ tổng kết 40 năm đổi mới, mà còn tuyên bố một định vị lịch sử đưa Việt Nam bước vào “kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sự kiện mang tính lịch sử then chốt diễn ra trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế phức tạp. Đại hội không chỉ tổng kết 40 năm Đổi mới, mà còn tuyên bố một định vị lịch sử đưa Việt Nam bước vào “kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.
Giáo sư Phan Kim Nga, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc
Đại hội có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử phát triển của Việt Nam. Báo cáo của Đại hội cung cấp định hướng chiến lược cho giai đoạn mới của sự phát triển chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, thể hiện trí tuệ lãnh đạo và quản trị đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam, phản ánh sự tự tin, tự cường và tự chủ ngày càng cao. Đây là sự phản ánh tập trung về chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Học giả Phan Kim Nga trả lời phỏng vấn của phóng viên Báo Nhân Dân thường trú tại Trung Quốc.
Những kết quả của Đại hội được thể hiện ở một số khía cạnh sau:
Một là, bầu ra tập thể lãnh đạo Trung ương khóa mới, bao gồm các thành viên Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương và Ủy ban Kiểm tra Trung ương, bầu ra Tổng Bí thư. Ban lãnh đạo khóa mới được trẻ hóa, chuyên nghiệp hơn và thiết thực hơn, đáp ứng yêu cầu phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Tôi tin rằng, ban lãnh đạo khóa mới có thể hoàn thành các nhiệm vụ từng bước dẫn dắt dân tộc Việt Nam vươn mình, đặt nền móng cho hiện thực hóa khát vọng Việt Nam trở thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao, sánh vai với các cường quốc năm châu.
Hai là, Đại hội tổng kết những thành tựu và kinh nghiệm của 40 năm cải cách và đề ra các mục tiêu, phương hướng phát triển và nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới. Điều này bao gồm cả những thành tựu lý luận và kết quả thực tiễn.
Đại hội đã thông qua các văn kiện quan trọng. Báo cáo Chính trị của Đại hội này là một cải cách trong cách thức tổ chức hội nghị, hợp nhất 3 báo cáo như trước đây thành một Báo cáo Chính trị duy nhất, được đơn giản hóa, giảm khoảng một nửa độ dài so với trước. Chương trình hành động thực hiện Báo cáo Chính trị cũng đã được thảo luận và thông qua. Đây là một sự đổi mới quan trọng, phản ánh các nguyên tắc tinh giản và hiệu quả trong hành chính của Ban Chấp hành Trung ương khóa mới.
Đại hội là một cột mốc quan trọng đối với sự phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, chủ yếu thể hiện ở bốn khía cạnh:
Thứ nhất, mở ra một kỷ nguyên phát triển mới - “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”; định hướng và vạch ra con đường phát triển cho giai đoạn mới sau 40 năm đổi mới, xác định rõ kế hoạch dài hạn cho những đột phá kinh tế giai đoạn 2026-2030 hướng tới trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
Thứ hai, củng cố nền tảng phát triển bằng cách tăng cường vai trò lãnh đạo hạt nhân và hiệu quả thể chế của Đảng thông qua đổi mới lý luận, tinh giản và tối ưu hóa hệ thống quản trị, phòng, chống tham nhũng, từ đó tạo sự đồng thuận trong toàn dân.
Thứ ba, tập trung vào đời sống nhân dân, tăng cường thiết kế chính sách và nâng cao ý thức về lợi ích và sự gắn kết của người dân với con đường phát triển. Các chính sách về dân sinh được chỉ đạo bởi nguyên tắc "lấy dân làm gốc", tập trung vào các lĩnh vực trọng điểm như y tế, giáo dục, nhà ở và bảo vệ các nhóm đối tượng đặc biệt.
Thứ tư, xác định rõ vị thế chiến lược của đối ngoại và chủ động tạo ra môi trường phát triển thuận lợi.
Kết quả của Đại hội về cơ bản là sự khẳng định lại con đường phát triển của Việt Nam, nâng cấp hơn nữa chiến lược phát triển và tăng cường hơn nữa năng lực quản trị. Đại hội không chỉ vạch ra một kế hoạch phát triển rõ ràng cho 5 năm tới và xa hơn nữa, mà còn cung cấp sự bảo đảm quan trọng cho Việt Nam đạt được sự phát triển ổn định trong môi trường quốc tế bất ổn và tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045. Đại hội sẽ củng cố hơn nữa niềm tin và sự ủng hộ của người dân Việt Nam đối với sự lãnh đạo của Đảng và con đường phát triển xã hội chủ nghĩa.
Phóng viên: Bà đánh giá như thế nào về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, dẫn dắt Việt Nam tiến lên phồn vinh, giàu mạnh, nhất là trong bối cảnh Việt Nam bước vào “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”?
Giáo sư Phan Kim Nga: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo của Nhà nước và xã hội Việt Nam. Những thành tựu của 40 năm đổi mới một lần nữa chứng minh tính đúng đắn sự lựa chọn của lịch sử và sự lựa chọn của nhân dân. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được khẳng định hơn nữa tại Đại hội XIV; trên cơ sở tình hình mới, Đảng đã đề ra các kế hoạch nhằm tối ưu hóa hơn nữa hệ thống quản trị và tăng cường hiệu quả lãnh đạo.
Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo cốt lõi trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Thông qua bốn trụ cột là định hướng về tư tưởng, bảo đảm về thể chế, điều phối chiến lược và tập hợp nhân dân, Đảng đã dẫn dắt toàn bộ tiến trình phát triển của Việt Nam từ kỷ nguyên đổi mới và mở cửa đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Giáo sư Phan Kim Nga, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc
Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo cốt lõi trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Thông qua bốn trụ cột là định hướng về tư tưởng, bảo đảm về thể chế, điều phối chiến lược và tập hợp nhân dân, Đảng đã dẫn dắt toàn bộ tiến trình phát triển của Việt Nam từ kỷ nguyên đổi mới và mở cửa đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Bước vào kỷ nguyên mới, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục đóng vai trò lãnh đạo bằng cách tăng cường đổi mới lý luận, đi sâu cải cách thể chế, tập trung vào đột phá chiến lược và củng cố nền tảng cầm quyền, cung cấp những bảo đảm cơ bản để đạt được các mục tiêu phát triển năm 2030 và 2045.

Giáo sư Phan Kim Nga, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc.
Tóm lại, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự bảo đảm cơ bản cho những thành tựu của Việt Nam kể từ khi đổi mới và mở cửa và vai trò cốt lõi của Đảng được thể hiện trong sự dẫn dắt toàn diện đối với sự phát triển của đất nước. Bước vào kỷ nguyên mới, Đảng đã không ngừng củng cố vị trí lãnh đạo cốt lõi của mình thông qua đổi mới lý luận đáp ứng nhu cầu thời đại, cải cách thể chế để nâng cao hiệu quả quản lý, đột phá chiến lược để dẫn dắt sự phát triển và củng cố nền tảng cầm quyền để tập hợp sức mạnh của toàn dân.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đang từng bước tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, chính việc thực hiện hiệu quả vai trò lãnh đạo của Đảng là chìa khóa để đạt được tầm nhìn này.
Phóng viên: Quan hệ Việt Nam-Trung Quốc đang ở giai đoạn phát triển hết sức tốt đẹp. Theo bà, sau Đại hội XIV, hai Đảng cần tăng cường hợp tác và trao đổi như thế nào để phát huy vai trò dẫn dắt của đối ngoại kênh Đảng, thúc đẩy sự phát triển lành mạnh, ổn định của quan hệ song phương và hỗ trợ cho việc thực hiện các mục tiêu chiến lược của mỗi bên?
Giáo sư Phan Kim Nga: Báo cáo của Đại hội XIV nêu rõ, Việt Nam sẽ tiếp tục kiên trì chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; là bạn, là đối tác đáng tin cậy và thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Việt Nam cũng sẽ tích cực đóng góp vào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững; tham gia tích cực và có trách nhiệm vào giải quyết các vấn đề khu vực và quốc tế; bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng và quản lý tập trung của Nhà nước đối với công tác đối ngoại; đồng thời, triển khai toàn diện, hiệu quả, từ Trung ương đến địa phương ba trụ cột của công tác đối ngoại: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân.
Đường lối đối ngoại của Đại hội XIV rất phù hợp việc làm sâu sắc thêm quan hệ Trung Quốc-Việt Nam. Là những nước láng giềng xã hội chủ nghĩa thân thiện, Trung Quốc và Việt Nam có thể thúc đẩy việc xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai có ý nghĩa chiến lược thông qua tăng cường sự tin cậy chiến lược và nâng cấp hợp tác thực tiễn.
Giáo sư Phan Kim Nga, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc
Quan hệ giữa hai Đảng là bộ phận quan trọng trong quan hệ Trung Quốc-Việt Nam, đóng vai trò dẫn dắt chính trị và chiến lược trong quan hệ song phương.
Căn cứ vào nội dung báo cáo Đại hội XIV và những tiến triển thực chất đạt được trong việc xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Trung Quốc-Việt Nam có ý nghĩa chiến lược trong hai năm qua, có thể dự đoán rằng, sau Đại hội, quan hệ giữa hai Đảng sẽ tiếp tục duy trì xu hướng phát triển tốt đẹp và tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt; đồng thời, sẽ có 3 sự chuyển biến quan trọng: thứ nhất, vai trò dẫn dắt chính trị sẽ mở rộng từ việc định hướng chiến lược sang điều phối toàn diện; thứ hai, trọng tâm giao lưu kênh Đảng sẽ nâng cao từ việc trao đổi lý luận sang học hỏi kinh nghiệm quản trị; thứ ba, định hướng mục tiêu trong quan hệ hai Đảng sẽ nâng cao từ việc hỗ trợ lẫn nhau về hệ tư tưởng sang kiến tạo và phối hợp chiến lược.
Tôi tin rằng, đường lối đối ngoại của Đại hội XIV rất phù hợp việc làm sâu sắc thêm quan hệ Trung Quốc-Việt Nam. Là những nước láng giềng xã hội chủ nghĩa thân thiện, Trung Quốc và Việt Nam có thể thúc đẩy việc xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai có ý nghĩa chiến lược thông qua tăng cường sự tin cậy chiến lược và nâng cấp hợp tác thực tiễn. Đây không chỉ là thực tiễn cốt lõi của chính sách ngoại giao "đa phương hóa, đa dạng hóa" của Việt Nam, mà còn là một cách để tăng cường hơn nữa tiếng nói của Việt Nam trong quản trị khu vực và toàn cầu thông qua hợp tác song phương.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!












