Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa I (tháng 5/1941) với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một cuộc giải phóng vĩ đại, đồng thời là một sự kiện lịch sử to lớn của thế giới trong thế kỷ XX, có ý nghĩa thời đại sâu sắc. Thắng lợi của cách mạng đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm, ách thống trị của phát xít Nhật gần 5 năm và lật nhào ngai vàng phong kiến ngự trị hàng thế kỷ ở nước ta, dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước do Nhân dân lao động làm chủ.
Đánh giá về thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng chí Trường Chinh đã khẳng định: “Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, một phần lớn là nhờ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Đông Dương, nhờ công tác tổ chức và chuẩn bị của Đảng và của Mặt trận Việt Minh trước khi khởi nghĩa”. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi là kết quả tổng hòa của nhiều yếu tố, trong đó những quyết sách lịch sử của Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa I (tháng 5/1941) là yếu tố quyết định chiều hướng phát triển của cách mạng Việt Nam, chuẩn bị trực tiếp mọi điều kiện để tiến tới cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
Từ cuối thập niên 1930 của thế kỷ XX, tình hình thế giới và Đông Dương có những chuyển biến lớn. Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Ngày 22/9/1940, quân đội Nhật đánh chiếm nước ta, quân Pháp nhanh chóng tan rã. Đông Dương đã bị đặt dưới hai tầng áp bức cai trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Không cam chịu nô lệ, nhân dân ta đã vùng lên đấu tranh với các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (tháng 9/1940), khởi nghĩa Nam Kỳ (tháng 11/1940) và binh biến Đô Lương (tháng 1/1941) nhưng đều bị thất bại.

Đồng Chí Nông Thanh Tùng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy, tham luận tại Hội thảo khoa học cấp tỉnh “Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa I (tháng 5/1941): Tầm nhìn chiến lược của Đảng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước”.
Trước tình hình đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị lần thứ 6 (tháng 11/1939) tại Bà Điểm, Hoóc Môn, Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh) và Hội nghị lần thứ 7 tại làng Đình Bảng, phường Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (tháng 11/1940), nhận định, sự câu kết giữa Pháp và Nhật đem đến cho nhân dân tai họa không kể xiết. Do đó, “Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy. Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy cái sứ mệnh thiêng liêng: lãnh đạo cho các dân tộc bị áp bức ở Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập”.
Lúc này, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Trung Quốc. Nhận rõ “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”. Ngày 28/1/1941, sau 30 năm xa Tổ quốc, Người cùng một số đồng chí cán bộ từ Trung Quốc trở về Pác Bó, xã Trường Hà, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng (nay là xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng) xây dựng căn cứ địa, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Từ đây, Cao Bằng trở thành nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng gắn liền với cuộc đời hoạt động cách mạng của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và của Đảng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Người đã cùng với Trung ương Đảng tập trung lãnh đạo nhân dân cả nước chuẩn bị mọi điều kiện tiến tới khởi nghĩa giành lại nền độc lập dân tộc.Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là kết quả từ những quyết sách lịch sử của Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa I (tháng 5/1941).
Thứ nhất, hoàn chỉnh đường lối chiến lược cách mạng của Đảng, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên nhiệm vụ hàng đầu
Từ ngày 10 - 19/5/1941, tại Lán Khuổi Nặm, làng Pác Bó, xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau khi phân tích tình hình thế giới và trong nước, Hội nghị xác định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương là phát xít Pháp - Nhật và các lực lượng phản cách mạng tay sai; đồng thời đưa ra giải pháp mới về vấn đề dân tộc nhằm đáp ứng yêu cầu khẩn cấp của vận mệnh dân tộc và nguyện vọng khát khao nhất của nhân dân: “Trong lúc này khẩu hiệu của Đảng ta là trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách của giặc Pháp - Nhật”. Hội nghị nhận định: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Hội nghị xác định nhiệm vụ chiến lược và tính chất của cách mạng Việt Nam: “Cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”. Nhận định khoa học này là cơ sở để Hội nghị đi đến quyết tâm chuyển hướng chiến lược cách mạng: Đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc cao hơn hết, là nhiệm vụ trước tiên, tạm gác nhiệm vụ cách mạng điền địa.
Hội nghị quyết định xúc tiến công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, coi đó là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và Nhân dân trong giai đoạn hiện tại; quyết định xây dựng căn cứ vũ trang, trước hết là căn cứ Cao Bằng và căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai; đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng, làm cho Đảng đủ năng lực lãnh đạo công cuộc chuẩn bị và tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ Tám có ý nghĩa to lớn trong tiến trình hoạch định đường lối và quá trình thực hiện cuộc vận động khởi nghĩa vũ trang; bổ sung và hoàn chỉnh đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam - đường lối giải phóng dân tộc ở một nước thuộc địa phù hợp với thực tiễn Việt Nam được nêu ra từ Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (tháng 11/1939) và lần thứ 7 (tháng 11/1940), khẳng định dứt khoát chủ trương “thay đổi chiến lược”, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Sự thay đổi căn bản nhận thức về nhiệm vụ hiện thời của cách mạng Đông Dương chính là nguồn gốc, là nền tảng để Đảng đặt ra những quyết sách lớn nhằm đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng yêu nước trong Mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng quần chúng cách mạng ở cả nông thôn và thành thị, xây dựng căn cứ địa cách mạng và lực lượng vũ trang, tích cực chuẩn bị lực lượng đón thời cơ khởi nghĩa - những quyết sách dẫn đường cho toàn thể dân tộc ta tiến lên giành thắng lợi trong sự nghiệp đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Đây chính là quá trình hoàn thiện đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng, sự kế thừa, phát triển qua khảo nghiệm thực tiễn của cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng. Sự “thay đổi chiến lược” cách mạng ở Đông Dương của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 là đúng đắn, sáng tạo, kịp thời, có ý nghĩa quyết định chiều hướng phát triển thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Như vậy, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 đã mở đường cho Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đi đến thắng lợi hoàn toàn ở Việt Nam.
Thứ hai, thành lập Mặt trận Việt Minh, quy tụ sức mạnh đại đoàn kết dân tộc
Tại Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tháng 5/1941, Đảng ta và Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đề ra chủ trương thành lập một Mặt trận dân tộc thống nhất của toàn dân tộc. “Vậy nên chiến thuật hiện tại của Đảng ta là phải vận dụng một phương pháp hiệu triệu hết sức thống thiết, làm sao đánh thức được tinh thần dân tộc xưa nay trong nhân dân (hơn hết là dân tộc Việt Nam). Cho nên cái mặt trận hiệu triệu của Đảng ta hiện nay không thể gọi như trước là Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, mà phải đổi ra cái tên khác cho có tính chất dân tộc hơn, cho có một mãnh lực dễ hiệu triệu hơn và nhất là có thể thực hiện được trong tình thế hiện tại; vậy mặt trận hiệu triệu của Đảng ta hiện nay ở Việt Nam là Việt Nam độc lập đồng minh, hay nói tắt là Việt Minh”.
Trên cơ sở kết quả của những kinh nghiệm thí điểm Mặt trận Việt Minh ở các châu Hòa An, Hà Quảng, Nguyên Bình (tỉnh Cao Bằng), ngày 19/5/1941, theo sáng kiến của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh), lấy cờ đỏ sao vàng năm cánh làm cờ của Việt Minh và sẽ làm cờ Tổ quốc khi thành lập nước. Các đoàn thể quần chúng yêu nước chống đế quốc đều thống nhất lấy tên là Hội cứu quốc như Công nhân cứu quốc hội, Nông dân cứu quốc hội, Thanh niên cứu quốc hội, Phụ nữ cứu quốc hội, Phụ lão cứu quốc hội, Nhi đồng cứu quốc hội...
Mặt trận Việt Minh chính thức ra đời với Tuyên ngôn, Chương trình và Điều lệ cụ thể, nêu rõ những chính sách cơ bản về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội, ngoại giao và các chính sách cụ thể đối với các tầng lớp Nhân dân nhằm liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, “cốt thực hiện hai điều mà toàn thể đồng bào đang mong ước: 1. Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; 2. Làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do”.
Đến cuối năm 1941 đầu năm 1942, ở Cao Bằng đã xuất hiện nhiều xã, tổng và châu “hoàn toàn” - tất cả nhân dân đều tham gia Việt Minh. Những năm 1943 - 1944, Mặt trận Việt Minh được mở rộng trên cơ sở không ngừng củng cố và phát triển các tổ chức của công nhân và nông dân, là “xương sống của Mặt trận dân tộc thống nhất chống Nhật - Pháp”. Thông qua Mặt trận Việt Minh, những chủ trương lãnh đạo của Đảng đã nhanh chóng đi vào phong trào quần chúng. Đảng ta đã xây dựng được một khối lực lượng chính trị quần chúng mạnh mẽ, được rèn luyện qua những phong trào cách mạng. Sự ra đời của Mặt trận Việt Minh là kết quả của đường lối chính trị đúng đắn của Đảng với tư tưởng cách mạng khoa học, sáng tạo của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Mặt trận Việt Minh đã lôi cuốn, tập hợp quần chúng cả nước đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền, góp phần quyết định vào sự thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Thứ ba, xây dựng căn cứ địa cách mạng
Với tầm nhìn xa, trông rộng và sự tính toán kỹ lưỡng liên quan tới việc phát triển phong trào cách mạng của cả nước, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã quyết định chọn Cao Bằng để trở về nước xây dựng căn cứ địa cách mạng. Khi còn ở Trung Quốc, Người đã nhận định: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ”.
Sau khi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước và đặc biệt từ sau Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa I (tháng 5/1941), những năm 1941 - 1944, Trung ương Đảng đã chỉ đạo xây dựng căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo xây dựng căn cứ địa Cao Bằng, sau đó phát triển thành hai chiến khu: Cao - Bắc - Lạng và Thái - Tuyên - Hà. Cuối năm 1942, khu căn cứ Cao - Bắc - Lạng được thành lập, nhưng còn tương đối biệt lập, chưa liên thông, kết nối được với phong trào ở miền xuôi và vùng Tây Bắc. Đến đầu năm 1943, tại khu căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng, các đoàn Nam tiến đã mở được đường thông suốt liên lạc với khu căn cứ địa Bắc Sơn - Vũ Nhai và phong trào ở miền xuôi. Vì thế, cuộc vận động cứu quốc đã được đẩy lên một bước phát triển mới. Các “tổng hoàn toàn” và “châu hoàn toàn” ngày càng nhiều hơn.
Ngày 4/6/1945, khu căn cứ cách mạng được Tổng bộ Việt Minh chính thức thành lập gồm các tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên và một số vùng lân cận. Việt Bắc được xây dựng thành một căn cứ địa hoàn chỉnh (chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội), làm chỗ dựa vững chắc của cách mạng cả nước để bước vào cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.
Thứ tư, xây dựng tổ chức Đảng, đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo phong trào cách mạng
Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 5-1941 đặc biệt nhấn mạnh tới công tác xây dựng Đảng: “phải chú trọng xây dựng lực lượng Đảng đều khắp, đặc biệt là những đô thị tập trung, các đồn điền, hầm mỏ đến các vùng nông thôn và các vùng dân tộc thiểu số”; phải “làm sao cho đủ năng lực lãnh đạo cuộc cách mạng Đông Dương đi đến toàn thắng”. Một trong những nội dung quan trọng và nổi bật của Hội nghị là đã kiện toàn cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng chính thức, Ban Thường vụ Trung ương Đảng, bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương; trên cơ sở đó kiện toàn các cấp bộ Đảng từ Xứ ủy đến các cấp bộ Đảng ở các địa phương. Đây là nhân tố hàng đầu quyết định đường hướng của cách mạng Việt Nam.
Đồng thời, Hội nghị đặc biệt chú trọng công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ: “Việc đào tạo cán bộ nay đã thành công tác gấp rút, không thể bỏ qua một giờ phút. Tất cả các cấp bộ chỉ huy của Đảng phải đặc biệt chú ý công tác này. Những cấp bộ ấy phải mau mau tìm ra những đảng viên trung thành có bảo đảm chắc chắn, có năng lực sáng tạo lập ra các lớp huấn luyện”. Trong đó, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc quan tâm đào tạo, huấn luyện cán bộ toàn diện về mặt tư tưởng, lý luận, kinh nghiệm thực tiễn, cán bộ kiên trung và đặc biệt nhấn mạnh tới đạo đức cách mạng. Ở Cao Bằng, Người chỉ đạo mở các lớp đào tạo, huấn luyện cán bộ phù hợp với từng đối tượng, lứa tuổi, trình độ của Nhân dân, đặc biệt chú trọng tới lực lượng thanh niên và coi đây là lực lượng nòng cốt, xung kích của phong trào. Nội dung các bài giảng của Người thiết thực, bổ ích, phù hợp và hiệu quả huấn luyện cao; thực hiện huấn luyện từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, từ những mục tiêu đấu tranh trước mắt đến lâu dài...
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng đã chỉ đạo xuất bản tờ báo Việt Nam độc lập làm tài liệu tuyên truyền; viết nhiều thư, biên soạn, phiên dịch nhiều tài liệu tuyên truyền cho cách mạng và nhiều tài liệu về chính trị, quân sự để dùng vào công việc huấn luyện, đào tạo cán bộ, như: Cách đánh du kích; Lịch sử nước ta; Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô tóm tắt, Việt Minh ngữ tự kinh... Đồng thời, chỉ thị, định hướng cho cán bộ, đảng viên hoạt động ở Cao Bằng đặc biệt quan tâm đến phong trào học văn hóa, xóa nạn mù chữ; đồng thời chỉ đạo mở những lớp huấn luyện ngắn ngày về tình hình thế giới và trong nước, chủ trương, chính sách mới của Đảng và Chương trình, Điều lệ Viêt Minh, phương pháp công tác; chỉ đạo lựa chọn một số thanh niên ưu tú gửi đi học ở Liễu Châu (Trung Quốc)… do đó, vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa chuẩn bị cho lâu dài, cả cán bộ chính trị và cán bộ quân sự.
Đội ngũ cán bộ do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng chỉ đạo trực tiếp đào tạo và huấn luyện ở Cao Bằng đã nhanh chóng trưởng thành về mọi mặt, được tôi luyện cả về thực tiễn và lý luận. Đó là cơ sở để thu hút quần chúng tham gia, góp phần quan trọng đưa phong trào cách mạng của quần chúng phát triển mạnh mẽ và sâu rộng, tiến đến Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Nhiều đồng chí cán bộ đã trưởng thành từ những lớp huấn luyện của Người, sau này trở thành những cán bộ trung kiên, cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam.
Thứ năm, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, sẵn sàng chờ thời cơ Tổng khởi nghĩa
Với phương châm ở đâu có Việt Minh là ở đó có tự vệ và các đội tự vệ chiến đấu, Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 5/1941) đã quyết định xây dựng những tổ chức tiểu tổ du kích, du kích chính thức; ra Nghị định: “Ðiều lệ của Việt Nam tiểu tổ du kích cứu quốc”, một tổ chức quân sự rộng rãi của quần chúng có khả năng tiến hành chiến tranh du kích và quyết định thành lập các căn cứ địa cách mạng.
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị, nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang của Ðảng bước vào thời kỳ mới, đẩy mạnh xây dựng các đội vũ trang cách mạng tập trung làm nòng cốt cho phong trào đánh Pháp, đuổi Nhật, chuẩn bị cho khởi nghĩa từng phần giành chính quyền từng địa phương. Theo Nghị quyết Hội nghị, Ðội du kích Bắc Sơn được phát triển thành Ðội Cứu quốc quân, làm lực lượng nòng cốt để xây dựng căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai. Từ đó, các Trung đội Cứu quốc quân 1, 2, 3 được thành lập, với nhiệm vụ khẩn trương củng cố, gây dựng cơ sở; tranh thủ huấn luyện quân sự, phát động phong trào tự mua sắm vũ khí, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia.
Giữa năm 1944, tình hình thế giới có nhiều chuyển biến nhanh chóng, có lợi cho cách mạng Việt Nam. Tháng 8/1944, Trung ương Đảng kêu gọi Nhân dân “Cầm vũ khí, đuổi thù chung”. Không khí khởi nghĩa sôi sục khắp nơi. Nhân dân vùng Cao - Bắc - Lạng sẵn sàng hưởng ứng khởi nghĩa. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, ở thời điểm này, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Bây giờ thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới... Cuộc đấu tranh bây giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự. Song hiện nay, chính trị còn trọng hơn quân sự. Phải tìm ra một hình thức thích hợp thì mới có thể đẩy phong trào tiến lên”.
“Hình thức thích hợp” lúc bấy giờ, theo Người là thành lập “đội quân giải phóng” - đội quân chủ lực đầu tiên - Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân. Trong Chỉ thị thành lập Đội, Người khẳng định: “Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là chính trị trọng hơn quân sự... Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác... Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước chúng ta..."
Thực hiện chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngày 22/12/1944, tại khu rừng đại ngàn thuộc núi Dền Sinh, dãy Khau Giáng nằm giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình (nay thuộc xã Tam Kim, tỉnh Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - Đội quân chủ lực đầu tiên, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập. Đội gồm 34 chiến sĩ với 34 khẩu súng các loại, chia làm 3 tiểu đội, có chi bộ Đảng lãnh đạo, do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy, đồng chí Hoàng Sâm làm Đội trưởng, đồng chí Xích Thắng làm Chính trị viên.
Chấp hành chỉ thị “phải đánh thắng trận đầu” của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, chỉ sau hai ngày thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đã mưu trí, táo bạo, bất ngờ đột nhập vào đồn Phai Khắt (17 giờ chiều 25/12/1944) và liền sáng hôm sau (7 giờ sáng 26/2/1944) đột nhập và đánh đồn Nà Ngần, diệt gọn 2 đồn địch, tiêu diệt 2 tên đồn trưởng, bắt sống toàn bộ binh lính, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng. Chiến thắng Phai Khắt - Nà Ngần đã mở ra truyền thống quyết chiến, quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Sự ra đời của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân là một bước ngoặt lịch sử trên con đường đấu tranh cách mạng giải phóng của dân tộc ta. Từ đây, cách mạng Việt Nam xuất hiện ba hình thức tổ chức của lực lượng vũ trang Nhân dân: Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân là đội quân chủ lực, các đội vũ trang ở các châu và các đội tự vệ nửa vũ trang ở xã. Lần đầu tiên trong lịch sử, giai cấp công nhân và Nhân dân Việt Nam có một Quân đội kiểu mới do Đảng Cộng sản Việt Nam và Lãnh tụ Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục, rèn luyện và lãnh đạo.
Chỉ không đầy nửa năm sau ngày thành lập, vừa chiến đấu vừa vũ trang tuyên truyền, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã phát triển lớn mạnh, thống nhất với Cứu quốc quân cùng các tổ chức vũ trang khác thành Việt Nam giải phóng quân để cùng nhân dân đứng lên đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân.
Như vậy, trong quá trình vận động cách mạng Việt Nam giai đoạn 1941 - 1945, chủ trương của Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 5/1941) được cụ thể hóa bằng nhiều văn bản, chỉ thị nhằm tiến hành cách mạng bảo đảm thắng lợi hoàn toàn. Dưới ánh sáng Nghị quyết Hội nghị Trung ương Tám, một cuộc vận động cách mạng rộng lớn diễn ra suốt từ Bắc vào Nam. Cả dân tộc bước vào thời kỳ mới, đẩy mạnh xây dựng lực lượng cách mạng, tập trung mọi lực lượng cho phong trào đánh Pháp, đuổi Nhật, chuẩn bị cho khởi nghĩa từng phần giành chính quyền từng địa phương tiến tới tổng khởi nghĩa trong toàn quốc.
Có thể khẳng định rằng, những quyết sách lịch sử của Hội nghị đã tạo tiền đề, yếu tố quyết định, trực tiếp chuẩn bị điều kiện về mọi mặt cho Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 nổ ra và kết thúc thắng lợi. Từ tư tưởng và định hướng của Hội nghị, Cách mạng Tháng Tám đã thành công, mở ra một trang mới huy hoàng cho dân tộc và lịch sử nước nhà. Đây là minh chứng sinh động cho sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Như đồng chí Trường Chinh khẳng định: “Nếu không có Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh, thì cách mạng sẽ chuyển sang một tình thế khác. Nếu Đảng và Mặt trận Việt Minh không thống nhất được các tầng lớp đồng bào, không có uy tín trong nhân dân, không lãnh đạo được quần chúng nhân dân nổi dậy giành chính quyền, thì cách mạng có thể thất bại… Một cuộc cách mạng của thời đại mới muốn thắng lợi phải thực sự là một cuộc cách mạng của quần chúng nhân dân đông đảo, được chuẩn bị và lãnh đạo bởi một đảng tiên phong cách mạng. Cuộc khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã đạt được mục tiêu giành chính quyền, mục đích trực tiếp của mọi cuộc cách mạng, vì nó là sự nghiệp của toàn dân đoàn kết, kiên quyết chiến đấu để tự giải phóng, do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo”.











