Hội tụ thế và lực mới: Việt Nam sẵn sàng bứt phá sau Đại hội XIV
Chỉ còn vài tháng nữa là đến Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự kiện mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kỳ vọng, trên nền tảng thế và lực mới sau gần 40 năm Đổi mới, sẽ mở ra những đột phá về tư duy chiến lược, thể chế và nguồn lực, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững.
Nhìn lại chặng đường gần 40 năm Đổi mới, chúng ta tin tưởng Việt Nam đã đủ thế và lực để bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Từ một quốc gia thiếu lương thực, Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Kinh tế tăng trưởng ấn tượng với tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 6,6%/năm, giai đoạn 1986 - 2023. Theo dự báo năm 2025 quy mô nền kinh tế đạt trên 500 tỷ USD, đứng thứ 30 nền kinh tế lớn nhất thế giới, thu nhập bình quân đầu người dự kiến trên 5.000 USD.

Việt Nam đã đủ thế và lực để bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Trên trường quốc tế, Việt Nam ngày càng khẳng định vị thế qua việc gia nhập và chủ động tham gia các tổ chức kinh tế - chính trị đa phương như WTO, APEC, ASEAN, và hàng loạt các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA. Việc này không chỉ mở rộng thị trường xuất khẩu mà còn giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt, đồng thời tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực.
Trước yêu cầu mới của sự phát triển đất nước, Bộ Chính trị đã ban hành bốn nghị quyết quan trọng – Nghị quyết 57, 59, 66, 68, được ví như “bộ tứ kim cương” chiến lược nhằm khai thác tối đa tiềm năng, đồng thời tạo lực đẩy cho sự bứt phá toàn diện của đất nước.
TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội phận tích, bốn nghị quyết trên là một bộ khung thể chế cho phát triển bền vững. Có thể nói, bốn nghị quyết 57, 59, 66 và 68 mà Trung ương vừa ban hành không chỉ định hướng cho từng ngành, từng lĩnh vực, mà còn hợp thành một “bộ tứ trụ cột” thể chế của thời kỳ mới.
Nghị quyết 66 về xây dựng và thi hành pháp luật tạo ra luật chơi minh bạch, nhất quán. Nghị quyết 57 về khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo đem lại động lực năng suất và công nghệ lõi. Nghị quyết 68 khẳng định vai trò doanh nghiệp tư nhân như lực lượng chủ công của nền kinh tế. Nghị quyết 59 mở rộng sân chơi quốc tế với những chuẩn mực cao, buộc chúng ta phải không ngừng nâng chuẩn để cạnh tranh.
“Điều quan trọng hơn, khi triển khai đồng bộ, bốn nghị quyết này bổ trợ và cộng hưởng lẫn nhau: luật pháp minh bạch giúp công nghệ và kinh tế tư nhân bứt phá; doanh nghiệp trở thành chủ thể hấp thụ và thương mại hóa công nghệ; hội nhập vừa mở thị trường, vừa thúc đẩy cải cách trong nước.
Đây chính là khung thể chế thống nhất, tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam tận dụng hiệu quả nội lực, hội nhập sâu rộng và tiến nhanh, tiến mạnh trên con đường phát triển bền vững”, TS. Nguyễn Sĩ Dũng phân tích.
Một điểm đáng lưu ý nữa là sự đổi mới xây dựng văn kiện để trình Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Lần đầu tiên, ba báo cáo quan trọng là Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế - xã hội và Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng được tích hợp thành một văn kiện thống nhất, xuyên suốt và chặt chẽ. Điều này tạo ra sự đồng bộ, nhất quán trong các định hướng, từ đó nâng cao tính thuyết phục và khả năng triển khai thực tế.
Chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, nghị quyết đại hội các cấp phải có giá trị triển khai ngay sau đại hội, không chờ đợi thêm. Thực tế tại Hà Nội cho thấy nhiều đảng bộ xã, phường đã xây dựng báo cáo ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện và dễ kiểm tra giám sát – thể hiện tinh thần đổi mới và sáng tạo, phản ánh rõ nét đặc thù địa phương.
Theo TS. Nguyễn Sĩ Dũng, việc lần đầu tiên tích hợp Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế – xã hội và Báo cáo xây dựng Đảng thành một trục văn kiện thống nhất là một bước đổi mới rất quan trọng. Thay vì tách rời, ba báo cáo giờ đây gắn bó chặt chẽ, thể hiện tư duy quản trị hiện đại: Chính trị, kinh tế – xã hội và công tác xây dựng Đảng không tách biệt mà soi chiếu, bổ trợ cho nhau.
Cách tiếp cận này trước hết giúp Đảng nâng cao năng lực lãnh đạo, bởi đường lối chính trị được cụ thể hóa ngay bằng mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời được bảo đảm thực hiện bằng năng lực tổ chức, xây dựng Đảng. Xa hơn, văn kiện thống nhất còn trở thành một công cụ quản lý hiệu quả: nó định hướng phát triển, phân bổ nguồn lực, đồng thời tạo ra cơ chế kiểm soát và đánh giá xuyên suốt.
Văn kiện được trình bày ngắn gọn, cụ thể với từng mục tiêu rõ ràng, giải pháp thiết thực, chủ thể chịu trách nhiệm rõ ràng cùng kết quả kỳ vọng minh bạch. Đặc biệt, lần đầu tiên chương trình hành động được xây dựng đồng thời với văn kiện, không để chờ đợi lâu sau đại hội mới bắt đầu thực hiện. Đây là bước tiến mạnh mẽ nhằm bảo đảm các quyết sách chiến lược được tổ chức thực hiện nhanh, hiệu quả.
Chẳng hạn, trong lĩnh vực phát triển hạ tầng giao thông, văn kiện đề cập cụ thể việc mở rộng mạng lưới đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, cùng với các giải pháp xử lý điểm nghẽn giao thông và ô nhiễm môi trường. Tinh thần phân cấp, phân quyền được đẩy mạnh nhằm thúc đẩy trách nhiệm, tăng tốc độ và hiệu quả thực thi các nghị quyết.
Đại hội đảng bộ các cấp đang diễn ra trong bối cảnh đặc biệt khi cùng lúc phải giải quyết nhiều nhiệm vụ lớn: tinh gọn bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính, phát triển kinh tế, đồng thời tổ chức đại hội. Sức ép chưa từng có này đòi hỏi các cấp ủy đổi mới tư duy, tập trung trí tuệ xây dựng báo cáo chính trị sát thực, cụ thể, gắn liền với nguồn lực và trách nhiệm chủ thể thực hiện.
“Khi chính trị, kinh tế – xã hội và xây dựng Đảng hòa quyện trong cùng một văn kiện, niềm tin của nhân dân cũng được củng cố. Người dân có thể thấy rõ một tầm nhìn xuyên suốt, một chiến lược đồng bộ, và quan trọng nhất là một quyết tâm hành động được đặt ra cho toàn bộ hệ thống chính trị…”, TS. Nguyễn Sĩ Dũng nhận định.