Hòn Khoai xa mà gần
Từ một hòn đảo tiền tiêu gắn với dấu mốc lịch sử bi tráng, Hòn Khoai - hòn đảo lãng mạn, đẹp nhất vùng biển Tây Nam nay đã ở trong một không gian phát triển mới rộng lớn hơn và sẽ gần gũi hơn nhờ những nhịp cầu vượt biển.
Tôi đã từng đứng ở bãi Khai Long (xã Đất Mũi, Cà Mau) vào một buổi chiều cuối năm, khi mặt trời đỏ rực chầm chậm lặn xuống mặt biển. Gió Tây Nam thổi ào ạt, mang theo mùi muối mặn chát và hơi thở xanh của rừng đước, rừng mắm. Một ông lão trạc 80, da đen bóng như gỗ mun, ngồi trên chiếc ghế làm bằng thân cây đước quen thuộc, chỉ tay về phía chân trời xa thẳm: “Thấy không cậu, Hòn Khoai ở ngay đó, mắt thường vẫn thấy được, vậy mà mấy chục năm nay nó vẫn xa như một giấc mơ không chạm tới”.
Hòn Khoai, cái tên nghe đã ngọt như củ khoai nướng trên bếp than ngày xưa. Người dân Cà Mau bảo rằng đó là hòn đảo đẹp nhất vùng biển Tây Nam. Đảo có ngọn hải đăng hơn trăm tuổi đứng lặng lẽ nhìn về đất liền và nhớ về một ký ức hào hùng. Nơi lưu danh thiên cổ thầy giáo mang tên Phan Ngọc Hiển và ngọn lửa Hòn Khoai. Vào đêm 13 tháng Chạp năm 1940, biển Cà Mau đen như mực. Trăng chỉ mới lưỡi liềm, đủ để soi mờ những chiếc xuồng ba lá lặng lẽ rẽ sóng về phía đảo Hòn Khoai. Trên mũi xuồng đầu tiên, một người đàn ông gầy gò, áo bà ba trắng, tay cầm khẩu súng trường cũ, mắt sáng như sao.

Vị trí sẽ xây dựng cụm cảng lưỡng dụng tại đảo Hòn Khoai
Người ấy là thầy giáo Phan Ngọc Hiển, 31 tuổi đời, 11 năm tuổi Đảng rẽ sóng tiến về đảo Hòn Khoai. Thầy vốn dạy chữ ở Trường Tiểu học Cà Mau. Ban ngày thầy đứng bảng, viết từng nét phấn: “Việt Nam độc lập”. Ban đêm thầy lại lặng lẽ đi khắp xóm lưới, bưng bát cơm cho anh em cơ sở, kể chuyện Bác Hồ, chuyện Xô-viết Nghệ Tĩnh, rồi nhẹ nhàng nói: “Sẽ có ngày cờ đỏ sao vàng bay trên đất này, các em tin thầy không?”. Trẻ con gật đầu, người lớn im lặng gật đầu, cả vùng U Minh Hạ nghe tiếng thầy mà ấm lòng.
Khi lệnh Nam Kỳ khởi nghĩa phát ra. Xứ ủy giao thầy làm Chính trị viên đội quân đánh chiếm Hòn Khoai. Thầy cười: “Đánh đồn lính khố xanh thì dễ, khó là làm sao giữ được ngọn lửa trong lòng dân”. Đêm ấy, hơn 100 nông dân, thợ săn, thầy giáo, học trò… cùng thầy vượt sóng. Họ không có nhiều súng, chỉ có lưỡi mác, dao găm và niềm tin cháy bỏng. Còi tàu Pháp còn chưa kịp ré lên, lá cờ đỏ sao vàng đã hiên ngang trên nóc đồn. Thầy Hiển đứng giữa sân đồn, giọng không lớn mà vang khắp đảo: “Đồng bào ơi, chúng ta đã làm chủ đất mình rồi!”.
Hòn Khoai còn có rừng nguyên sinh xanh mướt quanh năm, có những dòng suối nhỏ róc rách chảy từ đỉnh núi xuống tận mép biển. Người ta kể rằng trên đảo nước ngọt dồi dào đến mức chỉ cần đào cái giếng sâu chừng 3-4 mét là có nước trong veo uống quanh năm, không bao giờ cạn. Chỉ khổ một nỗi, muốn ra đảo phải đi ghe máy, phải chờ con nước lớn nước ròng, phải đội gió cấp 7 cấp 8 mới mong cập được bến. Có những mùa bão, cả tháng trời ghe tàu không chạy, đảo như một thế giới riêng, cô lập giữa trùng khơi mênh mông.
Tôi từng ra đảo nhiều lần bằng chiếc ghe cào gỗ cũ kỹ của chú Ba Đen. Ghe lắc lư, sóng đánh ầm ầm vào mạn, nước bắn tung tóe lên mặt. Chú Ba vừa cầm lái vừa cười: “Ra đảo mà không say sóng thì chưa phải dân biển”. Hai tiếng đồng hồ trôi qua chậm như cả một đời người. Khi ghe cập bến, tôi bước lên đảo mà chân còn run, nhưng trước mắt là rừng xanh, là tiếng chim núi gọi nhau, là mùi đất ẩm của rừng nguyên sinh. Tôi leo lên hải đăng, đứng trên cao nhìn về đất liền, thấy Đất Mũi chỉ là một vệt xanh mỏng manh phía chân trời. Lòng chợt nghĩ: gần mà xa, xa mà gần, đúng là Hòn Khoai.
Ngày 19-8-2025, tôi trở lại Đất Mũi. Không khí hoàn toàn khác. Không còn tiếng máy đò phành phạch ngoài khơi. Thay vào đó là tiếng thép va vào thép, tiếng cọc khoan nhồi đập xuống lòng biển, tiếng cần cẩu gầm vang giữa trời xanh, tiếng hàng trăm con người đồng thanh hô khẩu hiệu trước lá cờ đỏ sao vàng tung bay phần phật. Họ đang khởi công cây cầu vượt biển dài nhất Việt Nam, gần 18,22 km, mặt cầu rộng 17,5 mét, 4 làn xe, tốc độ thiết kế 80 km/h, từ bãi bồi Khai Long vươn thẳng ra Hòn Khoai. Một anh lính công binh trẻ măng, mặt đen nhẻm, nụ cười sáng trắng, kéo tôi lại gần: “Anh giữ gìn sức khỏe nhé, vài năm nữa quay lại đây, em chở anh chạy xe máy từ Đất Mũi ra đảo uống cà phê ngắm bình minh, 20 phút là tới nơi”. Tôi cười mà trong lòng rưng rưng. 20 phút. Chỉ 20 phút để thay đổi cả một lịch sử xa cách.
Tôi bắt đầu hình dung cái ngày ấy thật rõ ràng. Một buổi sớm mai, tôi sẽ phóng xe trên mặt cầu phẳng lì, gió biển thổi mát rượi, dưới chân là sóng vỗ trắng xóa, phía trước là đảo xanh với rừng nguyên sinh và ngọn hải đăng hiên ngang. Tôi sẽ dừng xe giữa cầu, bước ra lan can, mở rộng hai tay đón gió, để nghe tiếng sóng vỗ dưới bụng cầu như nghe nhịp tim mình đập mạnh. Tôi sẽ nhìn xuống dòng nước xanh thẳm, thấy những đàn cá nược lao nhanh như đùa vui với mọi người, thấy những con tàu đánh cá nhỏ bé giờ chỉ như đồ chơi trẻ con. Và tôi sẽ hiểu rằng, từ đây, cực Nam không còn là điểm cuối trên bản đồ nữa, mà là nơi bắt đầu một con đường mới vươn ra biển lớn.
Người dân ấp Khai Long tụm năm tụm ba bên những ngôi nhà lá. Có cụ bà mắt đã mờ, miệng cười móm mém: “Tui sống 80 năm chưa bao giờ nghĩ có ngày được ngồi xe hơi ra Hòn Khoai. Giờ chỉ mong trời cho sống thêm vài năm để đặt chân lên cây cầu ấy một lần cho mãn nguyện”. Ông Hai Mến, người mà tôi gặp nhiều lần ở bãi Khai Long, bảo: “Cầu này không chỉ nối đất liền với đảo, nó còn nối đời mình với đời con cháu mình. Con em tôi sẽ không phải xa quê mưu sinh nữa, sẽ có việc làm ngay trên đảo, trường học, bệnh viện chỉ cách vài chục phút chạy xe”.
Cây cầu đang lớn lên từng ngày. Mỗi bình minh, những chiếc sà lan lại rời bến, chở theo cát đá, xi măng và cả những giấc mơ của người dân ven biển. Những cây cọc khoan nhồi cắm sâu xuống lòng biển như những lời hứa chắc như đinh đóng cột. Các anh lính công binh thay ca nhau làm việc, áo ướt đẫm mồ hôi, da cháy nắng đen bóng, nhưng ánh mắt rực sáng. Họ bảo: “Chúng tôi không làm cho hôm nay, mà cho mai sau con cháu mình không còn phải nói câu “đảo xa quá” nữa và cho quốc phòng vững chắc hơn, cho biển đảo Tây Nam luôn là máu thịt của Tổ quốc”.
Khi những nhịp cầu cuối cùng hoàn thiện, chỉ 15, 20 phút ôtô, ta đã từ Đất Mũi đặt chân lên Hòn Khoai. Con đường cao tốc Bắc - Nam sẽ chạy một mạch từ Pác Bó xuống tận Mũi Cà Mau rồi vượt biển, nối thẳng vào cảng nước sâu Hòn Khoai - nơi những con tàu 250.000 DWT có thể neo đậu, nơi hàng hóa Đồng bằng sông Cửu Long sẽ ra biển lớn ngay trước cửa nhà, không còn phải vòng qua Singapore hay Hồng Kông. Thủy sản, gạo, trái cây sẽ lên tàu nhanh hơn, rẻ hơn. Người Cà Mau bảo nhau: “GDP kinh tế biển của tỉnh mình sắp tăng, không còn là lời hứa suông nữa”.

Cụm Hải đăng trên đỉnh đảo Hòn Khoai
Hòn Khoai sẽ thôi là hòn đảo xa xôi trong câu chuyện ông bà kể. Nó sẽ trở thành “lục địa cực Nam” thật sự: rừng nguyên sinh xanh mướt, suối nước ngọt róc rách, hải đăng trăm tuổi đứng đó như một chứng nhân lịch sử. Hàng triệu du khách sẽ đổ về đây mỗi năm, không chỉ để chụp ảnh ở cột mốc cuối cùng của Tổ quốc mà còn để nghe sóng vỗ, ngắm bình minh từ ngọn hải đăng, ăn cua tôm vừa đánh bắt. Những quán cà phê ven đảo, homestay dưới tán rừng, xe điện chạy vòng quanh đảo 14 cây số sẽ mọc lên như nấm sau mưa. Hàng nghìn thanh niên Khai Long, Đất Mũi sẽ có việc làm ngay tại quê hương, không còn phải lặn lội khắp nơi để mưu sinh.
Hàng trăm hộ dân trên đảo, bao năm sống giữa biển mà vẫn thấy mình lạc lõng, giờ sẽ có điện lưới quốc gia, trường học khang trang, trạm y tế đầy đủ thuốc men. Một cây cầu, mà xóa đi cả thế kỷ cô lập.
Với người lính biên phòng, cây cầu là con đường cơ động nhanh nhất để bảo vệ từng tấc biển Tây Nam. Tàu lớn vào tránh bão, cứu hộ kịp thời, lực lượng di chuyển thần tốc. Chủ quyền không còn là những đường kẻ trên bản đồ, mà là hơi thở thực sự giữa trùng khơi.
Và điều quan trọng nhất: tất cả không đánh đổi bằng rừng, bằng biển, mà được thực hiện cùng những phương án bảo vệ rừng ngập mặn và rạn san hô được tính toán kỹ lưỡng - như một lời hứa rằng chúng ta vươn ra biển lớn, nhưng không quay lưng lại với màu xanh quê nhà.
Tôi rời Đất Mũi khi hoàng hôn lại đỏ rực phía chân trời. Trong ánh chiều tà, bóng dáng cây cầu đang thành hình như một cánh tay khổng lồ vươn ra ôm lấy Hòn Khoai. Chỉ vài năm nữa thôi, người dân cực Nam sẽ thôi gọi đảo là “ngoài kia”. Họ sẽ nói nhẹ: “Đi ra Hòn Khoai một chút”.
Lúc ấy, giữa đất liền và biển đảo sẽ không còn khoảng cách nào nữa. Chỉ còn một con đường thẳng tắp, chạy từ trái tim Đồng bằng sông Cửu Long ra tới trái tim đại dương bao la, mang theo hơi thở của thịnh vượng, bình yên và khát vọng vươn tới tương lai. Tôi tin tất cả sẽ trở thành hiện thực trong tương lai gần bởi trong chuyến thăm, kiểm tra công tác tại đảo Hòn Khoai ngày 19-11-2025, Tổng Bí thư Tô Lâm đã kết luận: “Phải xây dựng các công trình trọng điểm tại Hòn Khoai theo cơ chế khẩn cấp, sớm đưa Cà Mau trở thành địa đầu phía Nam của Tổ quốc”.
Khi những nhịp cầu cuối cùng hoàn thiện, chỉ 15-20 phút ôtô, ta đã từ Đất Mũi đặt chân lên Hòn Khoai. Cao tốc Bắc - Nam sẽ chạy một mạch từ Pác Bó xuống tận Mũi Cà Mau rồi vượt biển, nối thẳng vào cảng nước sâu Hòn Khoai.
Nguồn PetroTimes: https://petrotimes.vn/hon-khoai-xa-ma-gan-738320.html











