Hồn xưa nơi đình cổ

Mỗi khi tiếng chiêng trống đình Bồ Bản ngân lên vang vọng giữa làng quê Hòa Vang, là như lời mời gọi mọi người trở về với cội nguồn. Ngôi đình cổ hơn 200 năm tuổi ấy chính là nơi gìn giữ bao lớp ký ức của quê hương.

Đình Bồ Bản (xã Hòa Vang hiện nay) được công nhận là “Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia” tại Quyết định số 1/1999/-QĐBVHTT ngày 4/1/1999 của Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch).

Nơi hội tụ của những lưu dân

Nhiều nhà nghiên cứu cho biết, làng Bồ Bản được hình thành vào những năm cuối thế kỷ 15 (khoảng năm 1476). Những lưu dân đầu tiên thuộc các tộc Trần, Hồ, Trương, Nguyễn... từ Thanh Hóa, Nghệ An trên bước đường thiên di đã mang theo niềm tin, phong tục, tập quán và văn hóa quê nhà vào khai khẩn vùng đất mới.

Khi đời sống ổn định, người dân dựng ngôi đình vào năm Canh Thân, niên hiệu Cảnh Thịnh (1800) làm nơi thờ cúng các vị thần trong tín ngưỡng dân gian, tế lễ và hội họp chung của làng. Buổi ban đầu, đình được dựng lên bằng tranh tre nứa lá tại gò Miếu Tam Vị nằm ở phía đông của làng.

Đến đời vua Tự Đức thứ 5 (1852), do dân số của làng ngày càng đông, đình lại tọa lạc ở vị trí khá chật hẹp nên các chức sắc và bô lão trong làng đã dời về vị trí hiện nay: trước mặt là cánh đồng bát ngát thoáng rộng, sau lưng là Gò Miếu, hai bên có Gò Chùa và Gò Ổi tạo thế “rồng chầu hổ phục”. Lúc này, đình được xây dựng kiên cố hơn bằng gạch ngói, gỗ quý và chạm khắc trang trí công phu, do bàn tay tài hoa của các nghệ nhân làng mộc Kim Bồng (Hội An) tạo tác.

Thời gian, thiên tai, chiến tranh tàn phá khiến đình bị hư hại và nhiều lần được trùng tu, sửa chữa. Năm Thành Thái thứ 18 (1906), đình được trùng tu lần đầu khá quy mô. Rồi đến các năm 1990, 2007 và 2011, đình được tu sửa, tôn tạo khang trang hơn, một số vì kèo, cột hỏng được thay thế bằng gỗ mít và kiền kiền, làm mới lại hệ mái, xây cổng tam quan, tường bao, sân vườn... nhưng diện mạo kiến trúc, nghệ thuật của đình thì hầu như không thay đổi.

Chuyện làng qua mái đình cổ

Đình Bồ Bản được kiến trúc theo kiểu chữ Nhất (一) “ba gian hai chái”, mặt quay về hướng nam, hài hòa với cảnh quan đồng quê. Bên trong, 36 cột gỗ mít và kiền kiền được đặt trên bệ đá tròn chạm hình cánh sen, tạo cảm giác vừa vững chãi vừa mềm mại.

Trang trí đầu rồng, chim phượng trên bẩy hiên đình. Ảnh: Minh Khuê

Trang trí đầu rồng, chim phượng trên bẩy hiên đình. Ảnh: Minh Khuê

Trên các thanh trính, kèo, bẩy hiên... được chạm khắc trang trí các mảng đề tài như đầu rồng, chim phượng, hồi văn, mây cuộn, tứ thời, tứ quý... với những đường nét mềm mại, tinh xảo hết sức sống động tạo nên những tác phẩm nghệ thuật độc đáo.

Mái đình lợp ngói âm dương với nóc đắp “lưỡng long triều nguyệt”, hai đầu bít đốc trang trí hình dơi, mai điểu, tùng lộc, cùng kỹ thuật khảm sành sứ cầu kỳ. Trước sân là bức bình phong lớn, mặt trước chạm hình long mã, mặt sau là hình rùa, biểu tượng cho sự thịnh vượng và trường tồn.

Chánh điện đình thờ thần Thành Hoàng làng, Tiền Hiền, Hậu Hiền, cùng các vị thần như Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thánh Nương, Thần Nông Đại Đế, Quan Thánh Đế Quân, Thiên Y Ana, Dương Phi Phu Nhân... Mỗi ban thờ đều có câu đối chữ Hán ca ngợi công đức tiền nhân, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.

Không chỉ là công trình kiến trúc cổ, đình còn lưu giữ nhiều cổ vật quý như long đình thỉnh sắc phong vua ban, bia đá lập năm Tự Đức thứ 5 (1852) khắc ghi công đức của dân làng trong việc dựng miếu Quan Thánh Đế Quân, bệ đá thờ của người Chăm... Đây là những tư liệu, hiện vật quý hiếm, minh chứng cho bề dày lịch sử và văn hóa của làng Bồ Bản.

Bên cạnh giá trị văn hóa - nghệ thuật, đình Bồ Bản còn là địa điểm gắn liền với các sự kiện trọng đại trong lịch sử cách mạng địa phương. Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đoàn biểu tình của tổng An Phước (Hòa Vang) xuất phát từ đình Cẩm Toại đã tập hợp tại sân đình Bồ Bản, rồi tiến hành giành chính quyền, thành lập Ủy ban hành chính xã. Nơi đây cũng diễn ra những buổi họp giữa chính quyền cách mạng và nhân dân trong những năm đầu kháng chiến.

Đình Bồ Bản là địa điểm đặt phòng phiếu bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nơi mở lớp bình dân học vụ đầu tiên của xã. Trong kháng chiến chống Mỹ, năm 1960, tại đình đã mở phiên tòa nhân dân xét xử tay sai Mỹ - Diệm. Sau ngày đất nước thống nhất, đình tiếp tục là nơi sinh hoạt chính trị, xã hội, học tập của nhân dân.

Nơi lưu giữ hồn dân tộc

Theo thông lệ cứ ba năm một lần, những ngày tháng Ba, người dân Bồ Bản tổ chức lễ hội tại đình nhằm tri ân các bậc tiền nhân đã khai sinh ra vùng đất, cầu cho “quốc thái dân an”, “phong điều vũ thuận”, “mùa màng bội thu”.

Lễ hội đình làng Bồ Bản diễn ra với nhiều hoạt động đa dạng, đặc sắc. Ảnh: QUỐC LÀNH

Lễ hội đình làng Bồ Bản diễn ra với nhiều hoạt động đa dạng, đặc sắc. Ảnh: QUỐC LÀNH

Bên cạnh phần lễ với nghi thức cúng tế truyền thống hết sức trang nghiêm thì phần hội với nhiều hoạt động sôi nổi diễn ra như thi gói bánh, nấu cơm, đẩy gậy, đua ghe, hát dân ca, bài chòi... thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia.

Cho dù nhịp sống hiện đại làm cho đời sống làng xã cổ truyền có nhiều thay đổi, nhưng đối với người dân Bồ Bản, ngôi đình không chỉ là di tích mà còn là phần gắn bó trong đời sống tinh thần của làng, họ giữ gìn ngôi đình như một phần ký ức và bản sắc quê hương.

MINH KHUÊ

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/hon-xua-noi-dinh-co-3332738.html