Hùn tiền mua đất bên ít bên nhiều, cùng đứng tên sổ đỏ: Ngã ngửa khi đất bị thu hồi
Hùn tiền mua đất, một bên góp nhiều, một bên góp ít nhưng cùng đứng tên trên sổ đỏ. Khi thửa đất bị Nhà nước thu hồi và phát sinh tiền bồi thường, mâu thuẫn bắt đầu nảy sinh.
Đất bị giải tỏa mới biết đứng tên chung
Theo trình bày của bà K., năm 2018, bà và ông D. (cùng ngụ tỉnh Đồng Tháp) góp vốn để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng một thửa đất lúa có diện tích gần 2.400m2 tại Đồng Tháp. Thửa đất này thuộc quyền sử dụng của ông C., được hai bên thống nhất mua với giá 2,4 tỷ đồng.
Theo thỏa thuận, ông D. góp 30% giá trị thửa đất, tương đương khoảng 700 triệu đồng, còn bà K. góp 70%, tương đương gần 1,7 tỷ đồng. Hai bên thống nhất sử dụng đất theo tỷ lệ vốn góp. Bà K. là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), còn ông D. thực hiện các thủ tục chuyển nhượng.
Việc giao nhận tiền được thực hiện qua nhiều đợt. Tháng 10/2018, bà K. giao cho ông D. 200 triệu đồng để đặt cọc mua đất, có lập biên nhận. Đến tháng 12/2018, bà tiếp tục giao cho ông C. số tiền 1,75 tỷ đồng, cũng có biên nhận xác nhận.
Tổng số tiền bà K. đã giao là 1,95 tỷ đồng, cao hơn số tiền phải góp theo thỏa thuận ban đầu khoảng 300 triệu đồng. Sau đó, ông D. đã hoàn trả lại cho bà K. khoản tiền chênh lệch này.

Ảnh minh họa: Anh Phương
Theo bà K., sau khi hoàn tất thủ tục sang tên, ông D. không giao sổ đỏ cho bà. Đến tháng 10/2019, khi cơ quan chức năng ban hành quyết định thu hồi hơn 800m2 thuộc thửa đất để thực hiện dự án và bồi thường 460 triệu đồng, bà K. mới phát hiện sổ đỏ được cấp đứng tên chung cả bà và ông D.
Từ đây, tranh chấp phát sinh. Ông D. yêu cầu được nhận 50% tiền bồi thường, trong khi bà K. không đồng ý, cho rằng việc phân chia phải căn cứ theo tỷ lệ góp vốn 70% – 30% đã thỏa thuận. Do hai bên không đạt được tiếng nói chung, toàn bộ số tiền bồi thường 460 triệu đồng được nộp vào Kho bạc Nhà nước địa phương để chờ giải quyết theo quy định.
Theo bà K., tháng 11/2020, ông D. hẹn gặp bà để giải quyết việc góp vốn mua đất và nhận tiền bồi thường. Khi gặp mặt, ông D. đi cùng một số người lạ và ép bà K. chuyển nhượng phần đất của mình cho ông với giá 2 tỷ đồng, đồng thời đưa trước 500 triệu đồng.
Cho rằng bị ép buộc, bà K. đồng ý nhưng chỉ viết giấy tay và sau đó trình báo chính quyền địa phương, song vụ việc không được giải quyết.
Bà K. sau đó khởi kiện, yêu cầu tòa án xác định đối với 1.600m2 đất còn lại, bà được sử dụng 70% (tương đương 1.100m2), ông D. được sử dụng 30% (500m2). Đối với tiền bồi thường 460 triệu đồng, bà yêu cầu được nhận 70%, tương đương 322 triệu đồng, đồng thời đồng ý hoàn trả 500 triệu đồng tiền đặt cọc đã nhận cho ông D.
Hai bên đều nói bị ép buộc, giao dịch vô hiệu
Về phía bị đơn, ông D. thừa nhận có góp tiền mua đất chung với tỷ lệ 30% như bà K. trình bày, nhưng cho rằng hai bên thỏa thuận khi hoàn tất thủ tục sẽ chia đều mỗi người 50%, trong đó 20% là tiền lãi bà K. hứa trả.
Theo ông D., sau khi chuyển nhượng đất xong, bà K. vẫn chưa góp đủ tiền, mới chỉ giao cho ông 1,15 tỷ đồng, còn thiếu gần 500 triệu đồng so với thỏa thuận.
Đối với cáo buộc ép bà K. bán phần đất còn lại, ông D. phủ nhận. Ông cho rằng tháng 11/2020, bà K. biết thông tin thửa đất còn lại có khả năng tiếp tục bị quy hoạch nên cho người đến nhà gây sức ép, buộc ông mua lại 1.100m2 đất của bà với giá 2 tỷ đồng. Đổi lại, bà K. đồng ý để ông nhận toàn bộ tiền bồi thường.
Tại bản án sơ thẩm ngày 7/8/2024, TAND huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (nay là TAND khu vực 9 – Đồng Tháp) chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà K. về việc chia tài sản chung.
Tòa án xác định quyền sử dụng đất sau giải tỏa được chia theo tỷ lệ 7:3. Bà K. phải trả cho ông D. 775 triệu đồng giá trị đất chênh lệch do nhận phần có giá trị lớn hơn. Khoản tiền bồi thường 460 triệu đồng cũng được chia theo tỷ lệ 7:3. Tòa không công nhận giao dịch đặt cọc chuyển nhượng đất, buộc bà K. hoàn trả 500 triệu đồng cho ông D.
Không đồng ý, ông D. kháng cáo, yêu cầu chia đôi quyền sử dụng thửa đất còn lại; bà K. phải trả cho ông phần tiền tương ứng với diện tích chênh lệch. Trường hợp không chia đất, ông D. đề nghị bà K. tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng vì đã nhận đặt cọc 500 triệu đồng.
Tuy nhiên, tòa phúc thẩm TAND tỉnh Đồng Tháp xác định giao dịch đặt cọc là giao dịch dân sự vô hiệu do hai bên không tự nguyện. Ông D. không cung cấp được chứng cứ mới, nên tòa phúc thẩm bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.












