Hương bưởi bên dòng Lô

Trên dải đất trung du ven sông Lô, nơi phù sa và nắng gió giao hòa, cây bưởi Đoan Hùng, nhất là bưởi Sửu Chí Đám, đã bén rễ, lớn lên, trở thành cây trồng chủ lực của tỉnh Phú Thọ.

Ông Đỗ Trung Kiên, Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất và Kinh doanh bưởi xã Chí Đám thăm vườn bưởi sắp thu hoạch.

Ông Đỗ Trung Kiên, Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất và Kinh doanh bưởi xã Chí Đám thăm vườn bưởi sắp thu hoạch.

Những ngày đầu xuân, sông Lô như dịu lại trong tiết trời se lạnh và sương mù. Chỉ tay vào những vườn bưởi phía xa, đồng chí Nguyễn Văn Hân, Phó Trưởng phòng Nông nghiệp xã Chí Đám giới thiệu với chúng tôi: Những ngày vào vụ, đi giữa Chí Đám, đâu đâu cũng thấy mùi thơm dịu nhẹ, phảng phất trong gió của hương bưởi. Bưởi Đoan Hùng khi thu hoạch có thành cao, vỏ vàng sáng, cùi mỏng; bổ ra múi ráo, tôm mọng nước, vị ngọt thanh mát và thơm rất riêng.

Trong hệ giống bưởi Đoan Hùng, nếu bưởi Bằng Luân nổi tiếng bởi chất lượng đồng đều, vị ngọt đậm; thì bưởi Sửu Chí Đám lại gắn chặt với đất phù sa sông Lô, sông Chảy và câu chuyện về lão nông tên Sửu.

Người dân xã Chí Đám kể rằng, ngày xưa, từ một cây bưởi ngon trong vườn nhà, người nông dân tên Sửu đã chiết cành, nhân giống bưởi quý ra khắp vùng, rồi mọi người lấy luôn tên ông để gọi: Bưởi Sửu. Câu chuyện truyền đời ấy, theo năm tháng, đã trở thành một phần ký ức của vùng đất bưởi. Ngoài hương vị thơm ngọt, giống bưởi này còn đặc biệt ở khả năng bảo quản dài ngày: Sau 5-6 tháng vẫn giữ được chất lượng, vị ngon, quả to, vỏ vàng mịn...

Theo người trồng bưởi, cái làm nên chất riêng của bưởi Sửu không chỉ là giống, mà là thổ nhưỡng. Dải đất ven sông Lô được phù sa bồi đắp sâu hàng chục mét, tạo lớp phù sa giàu dưỡng chất, vì thế, Chí Đám gần như là vùng trồng duy nhất của bưởi Sửu.

Theo thống kê từ Phòng Nông nghiệp xã Chí Đám, tổng diện tích bưởi toàn xã là 543,22ha, bưởi Sửu Chí Đám 91 ha, bưởi Bằng Luân 25ha; còn lại là các giống bưởi khác: Cát Quế, Xuân Vân, Diễn, Da xanh Đường lá nhăn… Diện tích cho sản phẩm đạt 524,27ha, năng suất trung bình dự kiến 13 tấn/ha, sản lượng ước đạt hơn 6.800 tấn, cho thu nhập bình quân từ 250-300 triệu đồng/ha/năm.

Những con số này cho thấy xã Chí Đám vẫn duy trì được quy mô của một vùng bưởi có diện tích đáng kể. Nhưng phía sau những mùa quả trĩu cành, người trồng bưởi đang đối mặt với bài toán không nhỏ: Chất lượng chưa ổn định, mẫu mã chưa đồng đều, sức mua giảm, giá bán giảm sâu…

Nhắc đến bưởi Sửu Chí Đám, không ai là không biết ông Đỗ Trung Kiên, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất và Kinh doanh bưởi xã Chí Đám.

Ông Kiên cho biết, Hợp tác xã được thành lập năm 2003; khi ấy, nhiều hộ dân bước vào con đường trồng và chăm sóc giống bưởi rất khó tính với một niềm tin mộc mạc: Đất phù sa ven sông Lô sẽ cho ra thứ quả ngọt thơm như cha ông từng gìn giữ. “Khó khăn nhất với các hộ dân là giống bưởi không dễ trồng, mẫn cảm với thời tiết, dễ mắc sâu bệnh. Bởi vậy, để có quả bưởi ngon đạt chuẩn, người trồng phải giữ quy trình chăm sóc nghiêm ngặt, từ chọn giống chuẩn, tạo tán hợp lý, tỉa cành đúng kỹ thuật, ưu tiên phân hữu cơ và kiểm soát sâu bệnh theo hướng tự nhiên. Không phải cứ trồng là có quả ngon”, ông Kiên chia sẻ.

Nhưng thị trường không phải lúc nào cũng như mong đợi. Điều khiến những người đứng đầu các hợp tác xã trồng bưởi ở đây trăn trở là sức ép cạnh tranh ngày càng lớn. Bưởi Sửu Chí Đám - giống bưởi đặc sản có chỉ dẫn địa lý, đang phải xếp cạnh quá nhiều giống bưởi khác được đưa ra thị trường với giá rẻ hơn nhiều.

Những năm trước, có lúc giá bưởi Sửu lên tới 70-80 nghìn đồng/quả cũng không có mà bán, nhưng nay chỉ còn khoảng 30-35 nghìn đồng/quả mà bán vẫn chậm. Những hộ trồng bưởi đều rất trăn trở, nhiều khi làm ra sản phẩm mà không bán được và sự cạnh tranh diễn ra ngay tại địa phương chứ chưa tính ở các địa phương khác.

Với vai trò là người đứng đầu Hợp tác xã, ông Kiên cho rằng điều quan trọng nhất lúc này là giữ được thương hiệu và uy tín cho bưởi Sửu Chí Đám, thứ quả mà ông gọi là “tinh túy của đất phù sa”.

Khi chúng tôi hỏi cách nhận diện bưởi Sửu Chí Đám, ông Kiên chỉ dẫn: Đặc điểm nhận diện khá rõ là quả bưởi có vỏ (túi dầu) mịn, tép bưởi ráo, múi rất thơm và ngọt mát; khi thưởng thức sẽ thấy hạt không trắng như các loại bưởi khác mà có màu nâu sậm, hình răng ngựa.

Trước đây trong làng chỉ có một số cây bưởi cổ, nay đã không còn. Tuy vậy, Hợp tác xã vẫn gìn giữ được nguồn cây đầu dòng giống chuẩn, làm cơ sở nhân giống cho gần 20ha bưởi.

Ông Kiên trăn trở: Nếu lớp người gắn bó nửa đời với cây bưởi dần già đi, ai sẽ là người tiếp tục gìn giữ giống bưởi quý? Trong khi đó, cánh cửa thị trường mới đang hé mở. Từ năm 2024-2025, Hợp tác xã đã nhận được các đề nghị hợp tác xuất khẩu sang Nga, Mỹ, châu Âu, New Zealand… Tuy nhiên, điều đáng tiếc là sản lượng chưa đủ lớn, nguồn hàng chưa ổn định để đáp ứng đơn hàng.

Bù lại, về tiêu chuẩn sản xuất, Hợp tác xã của ông Kiên đã có chứng nhận VietGAP; sản phẩm đạt OCOP 4 sao. Đây là những “tấm hộ chiếu” quan trọng để bưởi Sửu Chí Đám có thể đi xa hơn trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi minh bạch nguồn gốc và chất lượng.

Điều khiến nhiều người trồng bưởi Chí Đám trăn trở nhất vài năm trở lại đây là sức mua giảm, thị trường tiêu thụ co lại. Người tiêu dùng ngày càng khó tính, chỉ một vụ bưởi khô tôm, khô múi hay mẫu mã không đồng đều cũng đủ làm thương hiệu vất vả.

Theo ông Nguyễn Hải Đô, Giám đốc Hợp tác xã Bưởi và Dịch vụ tổng hợp Hùng Xuyên, muốn sản xuất bưởi bài bản và bền vững, cần tiếp tục củng cố mô hình hợp tác xã, tăng liên kết tiêu thụ, xây dựng thương hiệu, chuẩn hóa chất lượng và hỗ trợ người dân chuyển dần sang sản xuất theo hướng an toàn, có kiểm soát. Sản phẩm bưởi của xã viên được Hợp tác xã đứng ra kết nối tiêu thụ, hỗ trợ khâu quảng bá, giới thiệu và bảo đảm quy trình kỹ thuật. Bên cạnh đó, Hợp tác xã đóng vai trò “bà đỡ” về khoa học-kỹ thuật, hướng dẫn người dân canh tác theo quy trình, tổ chức tập huấn, giúp nâng cao năng suất và chất lượng quả.

Hiện nay, Hợp tác xã Hùng Xuyên liên kết sản xuất với quy mô hơn 200 ha, năng suất bình quân khoảng 14-15 tấn/ha, doanh thu đạt khoảng 450 triệu đồng/ha (tùy năm). Sản xuất bưởi còn đối mặt với nhiều khó khăn như thời tiết thất thường, sâu bệnh, chi phí đầu tư tăng… Bởi thế, con đường bắt buộc của vùng bưởi hôm nay không chỉ là “trồng nhiều”, mà là “làm chuẩn”: Từ quy trình chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, đến truy xuất nguồn gốc, chứng nhận VietGAP, OCOP, mã số vùng trồng… Hợp tác xã của ông Đô còn trồng thêm bưởi bonsai, bưởi cảnh, phục vụ thị trường Tết .

Hương bưởi bên dòng sông Lô vì thế không chỉ là hương thơm của mùa vụ, mà còn là hương của những nỗ lực bền bỉ để gìn giữ thương hiệu đặc sản đã thành danh của vùng đất này.

NGỌC ĐINH

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/huong-buoi-ben-dong-lo-post944241.html