Hướng dẫn xử lý vi phạm hành chính về bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội Việt Nam vừa hướng dẫn một số nội dung liên quan đến việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, nhằm thống nhất trong quá trình thực hiện...

Giải quyết chế độ liên quan đến bảo hiểm xã hội cho người lao động. Ảnh: Thu Hằng.
Trọng tâm là các nội dung tại Nghị định số 90/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, có hiệu lực từ ngày 15/5/2026; Nghị định số 283/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, có hiệu lực từ ngày 10/9/2026.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố tổ chức tuyên truyền, phổ biến các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp được quy định tại Nghị định số 283 và Nghị định số 90 đến các đơn vị sử dụng lao động, các cơ sở khám chữa bệnh.
Đối với những vụ việc thuộc thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan Bảo hiểm xã hội, phải kịp thời lập biên bản vi phạm hành chính và xử phạt đúng đối tượng, hành vi, trình tự, thủ tục, thời hạn; áp dụng đúng biểu mẫu, hình thức, mức phạt, biện pháp khắc phục hậu quả.
Đối với vụ việc có hành vi vi phạm hành chính vượt thẩm quyền, hoặc không thuộc thẩm quyền xử phạt của cơ quan Bảo hiểm xã hội, phải lập biên bản vi phạm hành chính, thiết lập hồ sơ kiến nghị người có thẩm quyền xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng lưu ý, trước khi lập biên bản vi phạm hành chính, ngoài việc xác định đúng thẩm quyền, hành vi vi phạm, phải xác định các trường hợp bị xử phạt nhưng không thuộc diện phải lập biên bản vi phạm hành chính.
Đơn cử, các hành vi vi phạm thuộc trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 500.000 đồng đối với cá nhân, 1.000.000 đồng đối với tổ chức; hành vi vi phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự chuyển đến theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Bên cạnh đó, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng hướng dẫn cụ thể việc xác định hành vi vi phạm về đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Theo đó, hành vi này được xác định là hành vi vi phạm về đóng bảo hiểm xã hội trong các Điều 43 và 44 Nghị định số 283/2026/NĐ-CP.
Đồng thời, chỉ xác định hành vi vi phạm về đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là hành vi độc lập khi người lao động giao kết hợp đồng lao động với nhiều đơn vị sử dụng lao động, đóng đối tượng tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp tại đơn vị sử dụng lao động khi phát hiện hành vi.
Trong thời gian chưa đủ điều kiện thực hiện xử phạt vi phạm hành chính bằng phương thức điện tử, thì biên bản vi phạm hành chính, quyết định xử phạt trong hoạt động kiểm tra từ xa được ký bằng chữ ký viết tay, và gửi đến đối tượng vi phạm qua dịch vụ bưu chính bằng hình thức bảo đảm.
Đối với những tổ chức, cá nhân không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo thời hạn phải thực hiện ghi trong quyết định xử phạt (bao gồm cả các trường hợp có khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử phạt), Bảo hiểm xã hội tỉnh tổ chức cưỡng chế, hoặc tham mưu cho người có thẩm quyền xử phạt tổ chức cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 86, Điều 87 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 296/2025/NĐ-CP.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng hướng dẫn việc chuyển hồ sơ kiến nghị xử phạt đối với vụ việc có hành vi vi phạm hành chính vượt thẩm quyền của Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh, hoặc không thuộc thẩm quyền của Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh.
Theo đó, các hành vi vi phạm hành chính vượt thẩm quyền của Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh là các hành vi vi phạm hành chính về bảo hiểm xã hội, đóng bảo hiểm thất nghiệp, đóng bảo hiểm y tế có mức xử phạt trên 37,5 triệu đồng đối với cá nhân, và 75 triệu đồng đối với tổ chức.
Các hành vi không thuộc thẩm quyền của Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh là các hành vi vi phạm hành chính về bảo hiểm y tế được quy định từ Điều 83 đến Điều 95 Nghị định số 90/2026/NĐ-CP.
Đối với các trường hợp trên, trong vòng 2 ngày làm việc sau khi lập biên bản vi phạm hành chính, phải chuyển hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt theo quy định. Trường hợp biên bản được lập tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, miền núi, hải đảo mà việc đi lại gặp khó khăn, thì thời hạn chuyển không quá 5 ngày làm việc.
Trong quá trình xử lý vi phạm hành chính, nếu phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm tại các Điều 214, Điều 215, Điều 216 Bộ luật Hình sự, phải dừng ngay quy trình xử phạt vi phạm hành chính, tập hợp tài liệu, dữ liệu, lập hồ sơ chuyển cơ quan có thẩm quyền để kiến nghị khởi tố theo quy định.
Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/huong-dan-xu-ly-vi-pham-hanh-chinh-ve-bao-hiem-xa-hoi.htm
