Kết nối những mạch giao thông trên hành lang kinh tế
Từ cửa khẩu Lào Cai, trục kết nối Vân Nam với Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh đang được định hình ngày càng rõ bằng những công trình giao thông chiến lược, các tuyến vận tải xuyên biên giới và mạng lưới logistics liên vùng. Những vấn đề đặt ra tại Hội nghị Hợp tác hành lang kinh tế 5 tỉnh, thành phố lần thứ XII cho thấy, yêu cầu hiện nay không chỉ là đầu tư thêm các tuyến đường mà quan trọng hơn là kết nối đồng bộ từ cửa khẩu, đường bộ, đường sắt đến cảng cạn, trung tâm logistics và cảng biển, hình thành chuỗi vận tải thông suốt từ Vân Nam ra biển.

Cầu đường bộ qua sông Hồng biên giới Bát Xát (Việt Nam) - Bá Sái (Trung Quốc) đang được đẩy nhanh tiến độ.
Trên trục Vân Nam - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, Lào Cai giữ vị trí cửa ngõ kết nối. Hàng hóa từ vùng Tây Nam Trung Quốc muốn đi sâu vào thị trường Việt Nam hoặc ra các cảng biển phía Bắc đều đi qua đầu mối giao thông, cửa khẩu và dịch vụ logistics tại đây. Theo chiều ngược lại, Lào Cai cũng là cửa ngõ trực tiếp đưa hàng hóa Việt Nam vào thị trường Vân Nam và sâu hơn vào nội địa Trung Quốc.

Các đại biểu trao đổi bên lề phiên thảo luận chuyên đề về giao thông vận tải và logistics trong khuôn khổ Hội nghị Hợp tác hành lang kinh tế 5 tỉnh, thành phố: Lào Cai, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh của Việt Nam và Vân Nam (Trung Quốc) lần thứ XII.
Vai trò ấy ngày càng rõ khi lưu lượng phương tiện, hàng hóa qua biên giới liên tục tăng. Trong 7 tháng năm 2026, các cửa khẩu trên địa bàn Lào Cai có hơn 180 nghìn lượt phương tiện xuất nhập khẩu, tăng 20% so với cùng kỳ năm 2025. Riêng Cửa khẩu quốc tế đường bộ số II Kim Thành, bình quân gần 500 lượt phương tiện mỗi ngày. Sự gia tăng nhanh của lưu lượng vận tải đang đặt ra yêu cầu mở rộng hạ tầng, nâng năng lực thông quan và tổ chức lại dịch vụ logistics.
Một trong những công trình được kỳ vọng tạo thêm năng lực kết nối qua biên giới là cầu đường bộ qua sông Hồng khu vực Bát Xát (Việt Nam) - Bá Sái (Trung Quốc), được Lào Cai và Vân Nam phối hợp khởi công ngày 31/3/2025. Hiện các hạng mục phía Việt Nam đang được đẩy nhanh tiến độ; hai bên phấn đấu hợp long nhịp chính vào đầu tháng 12/2026 và đưa công trình vào khai thác trong quý I/2027.
Ông Phí Công Hoan - Giám đốc Sở Xây dựng Lào Cai nhấn mạnh: Giá trị của công trình không chỉ nằm ở việc có thêm một cây cầu qua sông Hồng. Cùng với cầu mới, Lào Cai đang chuẩn bị các điều kiện hình thành lối thông quan Bản Vược. Khi đi vào hoạt động, đầu mối này sẽ góp phần phân bổ lại lưu lượng phương tiện, giảm sức ép cho Kim Thành, mở thêm không gian phát triển dịch vụ cửa khẩu, logistics ở khu vực Bát Xát.
Về phía tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), ông Vương Đông - Phó Giám đốc Sở Giao thông vận tải tỉnh Vân Nam cho rằng, kết nối giao thông vận tải là nền tảng đi trước, tạo động lực cho xây dựng hành lang kinh tế. Vì vậy, hai bên cần phối hợp tiến độ cầu Bát Xát - Bá Sái với hệ thống hạ tầng phụ trợ tại cửa khẩu, đồng thời thúc đẩy kết nối đường sắt khổ tiêu chuẩn, tạo thuận lợi hơn cho vận tải xuyên biên giới.

Giao thương nhộn nhịp tại cửa khẩu quốc tế đường bộ số 2 Kim Thành.
Cùng với mở thêm điểm kết nối, phạm vi vận tải đường bộ quốc tế cũng đang được mở rộng. Tháng 7/2026, hai bên ký thỏa thuận kéo dài 3 tuyến vận tải qua cửa khẩu Lào Cai - Hà Khẩu, qua đó kết nối trực tiếp Hải Phòng, Hà Nội với Mông Tự, Côn Minh, Thành Đô và Trùng Khánh. Khi phương tiện có thể đi sâu hơn vào nội địa mỗi nước, một số khâu trung chuyển, sang tải sẽ được giảm bớt, thời gian vận chuyển rút ngắn và khả năng tổ chức nguồn hàng hai chiều thuận lợi hơn. Lào Cai cũng đề nghị phía Trung Quốc tiếp tục tạo thuận lợi để phương tiện Việt Nam được vận chuyển hàng hóa đi sâu theo các tuyến đã thỏa thuận tới Mông Tự, Côn Minh.
Một hướng đi mới đang được chuẩn bị là giao thông thông minh gắn với cửa khẩu thông minh. Tại Kim Thành và Bản Vược, Lào Cai đang xây dựng phương án thử nghiệm phương tiện giao thông thông minh tự động hóa (IGV). Mục tiêu không đơn thuần là đưa thiết bị công nghệ vào cửa khẩu mà tiến tới tổ chức lại quy trình quản lý, kết nối dữ liệu, giảm thời gian chờ và nâng hiệu quả thông quan.

Bản đồ hướng tuyến dự án đường sắt Hà Nội - Lào Cai - Hải Phòng. Ảnh: Ban QLDA Đường sắt.
Nếu các cây cầu và tuyến vận tải đường bộ giải quyết điểm nối trực tiếp qua biên giới thì tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng được kỳ vọng tạo bước chuyển căn bản cho năng lực logistics của toàn hành lang. Tuyến đường sắt không chỉ nối Lào Cai với Hà Nội, Hải Phòng mà còn hướng tới kết nối với mạng đường sắt Trung Quốc qua Hà Khẩu Bắc, hình thành trục vận tải khối lượng lớn từ Vân Nam xuống các cảng biển phía Bắc Việt Nam và ngược lại.
Tại Lào Cai, công tác giải phóng mặt bằng dự án đang được triển khai đồng thời trên toàn tuyến. Cọc mốc đã được bàn giao tại toàn bộ 12 xã, phường có tuyến đi qua; 28/38 khu tái định cư và 3/4 dự án san gạt mặt bằng, hạ tầng kỹ thuật đã được khởi công. Đối với điểm nối ray qua biên giới, cơ quan có thẩm quyền hai nước đang đàm phán phương án và hoàn thiện Hiệp định xây dựng cầu đường sắt giữa ga Lào Cai và ga Hà Khẩu Bắc. Lào Cai đề xuất sớm thúc đẩy công trình này, đồng thời thiết lập cơ chế phối hợp giữa 5 tỉnh, thành phố để kết nối các ga đầu mối với trung tâm logistics Hà Nội và hệ thống cảng biển Hải Phòng, Quảng Ninh.
Nhìn trên toàn tuyến, mỗi địa phương giữ một mắt xích nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Hà Nội là trung tâm tập kết, phân phối hàng hóa, đang định hướng phát triển các trung tâm logistics tại Sóc Sơn, Phú Xuyên và các cảng cạn ICD, kết nối với hệ thống vành đai, cao tốc, sân bay, đường sắt và đường thủy. Thành phố cũng đề xuất xây dựng bản đồ số các đầu mối, tuyến logistics; thiết lập cơ chế trao đổi thường xuyên về cửa khẩu, vận tải, nhu cầu hàng hóa và tăng kết nối giữa doanh nghiệp logistics với chủ hàng.

Đoạn luồng Lạch Huyện được mở rộng gấp đôi so với hiện nay giúp việc đón tàu vào cảng làm hàng thuận tiện hơn. Ảnh: Báo Hải Phòng.
Ở cuối tuyến, Hải Phòng là cửa ngõ lớn đưa hàng hóa của Hành lang ra biển. Năm 2025, lượng hàng hóa qua hệ thống cảng thành phố đạt hơn 213 triệu tấn, riêng cảng biển Hải Phòng đạt 115,2 triệu tấn, tương đương 8,3 triệu TEU container. Trong 7 tháng năm 2026, lượng hàng qua cảng biển đạt 70,4 triệu tấn và 5,2 triệu TEU. Tuy nhiên, khoảng 88% container hiện vẫn vận chuyển bằng đường bộ, trong khi kết nối đường sắt tới cảng và vận tải thủy nội địa còn hạn chế. Đây là một trong những điểm nghẽn cần giải quyết nếu muốn nâng năng lực của toàn chuỗi logistics.
Quảng Ninh bổ sung cho hành lang một hướng ra biển và kết nối với Trung Quốc ở phía Đông, với đủ 5 phương thức vận tải gồm đường bộ, đường sắt, hàng không, hàng hải và đường thủy nội địa. Cao tốc Hải Phòng - Hạ Long - Vân Đồn - Móng Cái, Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn cùng hệ thống cảng biển nước sâu tạo thêm lựa chọn vận tải cho hàng hóa trên Hành lang.
Điểm chung được các địa phương đang hướng đến là phải tổ chức giao thông theo một hành lang thống nhất, thay vì mỗi tuyến, mỗi địa phương vận hành riêng lẻ. Từ cửa khẩu Lào Cai, hàng hóa cần có khả năng lựa chọn đường bộ hoặc đường sắt để đến Hà Nội, các trung tâm logistics, ICD hoặc đi thẳng xuống cảng biển. Cùng với dòng hàng là dòng dữ liệu về phương tiện, kho bãi, lịch tàu, container và nguồn hàng cần được chia sẻ để giảm xe rỗng, container rỗng và thời gian chờ.

Dự án mở rộng đoạn Yên Bái - Lào Cai thuộc cao tốc Nội Bài - Lào Cai đã đạt gần 60% giá trị khối lượng hợp đồng.
Trong mạng lưới ấy, hạ tầng kết nối từ Lào Cai về phía nội địa tiếp tục được hoàn thiện. Dự án mở rộng đoạn Yên Bái - Lào Cai thuộc cao tốc Nội Bài - Lào Cai đã đạt gần 60% giá trị khối lượng hợp đồng; dự án kết nối giao thông các tỉnh miền núi phía Bắc đoạn qua Lào Cai đạt hơn 98%, đều dự kiến hoàn thành trong năm 2026. Từ ngày 2/7/2026, giá cước vận chuyển hàng hóa liên vận quốc tế tại ga Lào Cai cũng được giảm 15%, xuống còn 86.000 đồng/tấn, tạo thêm điều kiện thu hút hàng hóa từ đường bộ sang đường sắt.
Từ những cây cầu đang thi công, tuyến đường sắt chuẩn bị đầu tư đến các tuyến vận tải xuyên biên giới được mở rộng, hình hài một trục vận tải liên hoàn từ Vân Nam qua Lào Cai, Hà Nội tới Hải Phòng, Quảng Ninh ngày càng rõ hơn. Tuy nhiên, hiệu quả của hành lang không chỉ được đo bằng số dự án được đầu tư mà quan trọng hơn là thời gian một lô hàng đi hết hành trình, số lần phải sang tải, thời gian chờ ở cửa khẩu và chi phí doanh nghiệp phải trả.
Khi các điểm nối qua biên giới được mở rộng, đường sắt được kết nối, vận tải đa phương thức phát triển và dữ liệu logistics được chia sẻ, lợi thế riêng của từng địa phương mới có thể kết thành lợi thế chung của cả Hành lang. Đó cũng là cơ sở để tuyến Vân Nam - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh thực sự trở thành một chuỗi vận tải xuyên biên giới thông suốt, đưa vùng Tây Nam (Trung Quốc) gần hơn với các cảng biển Việt Nam và mở rộng không gian giao thương cho các địa phương trên tuyến.


