Khắc phục bệnh thành tích, ưu tiên đánh giá thực chất thay vì kết quả 'đẹp'
Khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục cần thay đổi cách đánh giá, giảm áp lực chỉ tiêu và nhìn nhận đúng sự tiến bộ, năng lực thực của học sinh.

Cô trò Trường Tiểu học, THCS và THPT Hồng Đức (Hưng Yên).
Chỉ thị của Thủ tướng về thực hiện nhiệm vụ trọng tâm năm học 2026-2027 yêu cầu Bộ GD&ĐT có giải pháp cụ thể để khắc phục bệnh thành tích trong dạy, học và kiểm tra, đánh giá.
Áp lực từ chỉ tiêu, điểm số
Theo thầy Trần Công Nhật - giáo viên Trường THCS Phạm Văn Đồng (TP Huế), bệnh thành tích trong giáo dục không tự nhiên xuất hiện mà hình thành khi quá nhiều áp lực được đặt lên những con số như tỷ lệ học sinh khá giỏi, tỷ lệ lên lớp, tỷ lệ tốt nghiệp... Khi các chỉ số này được gắn trực tiếp với thi đua của giáo viên và nhà trường, rất khó tránh khỏi việc tìm cách để kết quả “đẹp” hơn.
Đánh giá việc bỏ phòng GD&ĐT, trao thêm quyền cho hiệu trưởng, là cơ hội để các nhà trường chú trọng hơn đến năng lực thực sự của người học, thay vì tiếp tục chạy theo những chỉ tiêu trên giấy. Tuy nhiên, thầy Trần Công Nhật cho rằng, tâm lý chờ đợi quy định cụ thể từ cấp trên vẫn là một nút thắt cần được tháo gỡ.
Trong bối cảnh chủ trương sáp nhập các trường, hướng tới mỗi phường, xã có một trường mầm non, một trường tiểu học và một trường THCS, vai trò, trách nhiệm của hiệu trưởng sẽ càng lớn hơn. Theo thầy Nhật, đây cũng là thời điểm cần thay đổi căn bản cách nghĩ về thi đua. Nếu vẫn áp đặt chỉ tiêu cứng và chủ yếu so sánh các trường bằng những con số về chất lượng đại trà, bệnh chạy đua thành tích vẫn tồn tại.
Thầy Nhật cũng cho rằng, không nên quy toàn bộ trách nhiệm về bệnh thành tích cho giáo viên. Bất cập nằm ở cách đánh giá kết quả đầu ra tuyệt đối thay vì đánh giá sự tiến bộ của học sinh. Một giáo viên nhận lớp có đầu vào rất yếu, nỗ lực giúp học sinh từ 3 điểm lên 6 điểm nhưng cuối năm vẫn có thể bị chất vấn vì tỷ lệ khá giỏi thấp. Trong khi đó, một lớp có đầu vào vốn tốt lại dễ được xem là có thành tích.
“Cách đánh giá như vậy tự nó đã tạo ra áp lực buộc người ta phải đối phó”, Thầy Nhật nhận định.
Một nguyên nhân khác, theo thầy Nhật, là tâm lý coi trọng điểm số và bằng cấp. Phụ huynh muốn con đạt điểm cao, nhà trường muốn kết quả đẹp, học sinh muốn hồ sơ đẹp, trong khi những yếu tố như khả năng tự học, tư duy và vận dụng kiến thức khó đo lường hơn.
Nếu điểm học bạ được sử dụng làm tiêu chí cạnh tranh trực tiếp vào các trường tuyến trên hoặc đại học, việc làm đẹp học bạ sẽ có động lực để xuất hiện. Vì vậy, muốn hạn chế tình trạng này cần xem xét cả cách thức tuyển sinh, chứ không thể chỉ yêu cầu giáo viên chấm điểm nghiêm túc.
Từ thực tế quản lý nhà trường, ông Hoàng Minh - Hiệu trưởng Trường THPT Phú Bài (TP Huế) cho rằng, bệnh thành tích trong dạy học xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Trước hết là áp lực xã hội khi bằng cấp vẫn được coi trọng trong tuyển dụng; các nhà trường cũng có sự cạnh tranh về tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT, học sinh giỏi, học sinh xuất sắc hằng năm. Bên cạnh đó, cha mẹ học sinh mong muốn con em đạt kết quả tốt để thể hiện với bạn bè, xã hội. Việc giao chỉ tiêu hằng năm cũng có thể tạo thêm áp lực về thành tích.
Thầy Vũ Ngọc Hoà - giáo viên Trường THPT Ngô Quyền (Đồng Nai) cũng nhìn nhận bệnh thành tích không bắt nguồn từ một nguyên nhân riêng lẻ và không nên chỉ quy trách nhiệm cho giáo viên. Đây là vấn đề có tính hệ thống, liên quan đến cơ chế quản lý, tiêu chí thi đua, phương thức kiểm tra, đánh giá và tâm lý của nhà trường, giáo viên, phụ huynh, học sinh.
Theo thầy Hoà, trong thời gian dài, chất lượng giáo dục thường được nhìn nhận thông qua những chỉ số dễ đo lường như tỷ lệ học sinh khá, tốt, tỷ lệ lên lớp, tỷ lệ tốt nghiệp, số lượng học sinh giỏi hoặc điểm trung bình môn. Những số liệu này cần thiết cho quản lý, nhưng nếu được sử dụng như tiêu chí chủ yếu để đánh giá giáo viên, nhà trường hoặc địa phương thì rất dễ tạo áp lực thành tích.
Khi đó có thể xuất hiện nghịch lý, giáo viên đánh giá nghiêm túc, phản ánh đúng năng lực học sinh nhưng nếu kết quả thấp lại phải giải trình; trong khi kết quả cao đôi khi mặc nhiên được xem là biểu hiện của chất lượng tốt.
Một bộ phận phụ huynh quan tâm nhiều đến việc con mình được bao nhiêu điểm, xếp loại thế nào, có được lên lớp hay không mà chưa quan tâm tương xứng đến việc học sinh thực sự biết gì, làm được gì và tiến bộ như thế nào. Học sinh vì vậy cũng dễ hình thành tâm lý học để thi, học để lấy điểm, luyện theo dạng bài hơn là học để hiểu và biết vận dụng kiến thức.

Thay vì điểm số, giáo viên cần nhìn nhận cả quá trình học tập, sự nỗ lực, khả năng vận dụng và sản phẩm thực tế của học sinh.
Cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức kiểm tra, đánh giá
Để hạn chế bệnh thành tích, ông Hoàng Minh cho rằng, cần đánh giá học sinh dựa trên cả quá trình học tập và rèn luyện, qua đó phản ánh đúng năng lực của các em. Việc đánh giá thi đua, viên chức cuối năm học cũng cần dựa trên nhiều tiêu chí, không nhất thiết chỉ căn cứ vào kết quả học tập của học sinh trên lớp.
Ở góc độ chính sách, ông Hoàng Minh đề xuất công tác tuyển dụng lao động cần đánh giá song hành giữa bằng cấp và năng lực thực tế, qua đó giảm tình trạng quá coi trọng văn bằng mà xem nhẹ năng lực làm việc thực sự.
Trong khi đó, thầy Trần Công Nhật nhấn mạnh việc cần làm trước tiên là dừng sử dụng một số tỷ lệ cứng về học sinh để đánh giá, xếp loại thi đua giáo viên. Học sinh chưa đạt thì ghi nhận là chưa đạt, không vì lo ảnh hưởng thi đua mà nâng điểm từ 4 thành 5, từ 5 thành 6.
Song song với đó, cần có cơ chế bảo vệ giáo viên trước áp lực từ dư luận và phụ huynh khi họ mạnh dạn chấm điểm đúng thực chất hoặc quyết định cho học sinh chưa đạt ở lại lớp. Nếu giáo viên nói thật nhưng phải đơn độc chịu áp lực khi phụ huynh khiếu nại, chất vấn, họ sẽ dễ lựa chọn giải pháp an toàn là “cho qua”.
Cùng với đó, cách đánh giá học sinh cũng cần thay đổi. Điểm số vẫn cần thiết nhưng không thể là căn cứ duy nhất. Cần nhìn nhận cả quá trình học tập, sự nỗ lực, khả năng vận dụng và sản phẩm thực tế của học sinh.
Thầy Vũ Ngọc Hoà cho rằng, giữa yêu cầu đổi mới chương trình và kiểm tra, đánh giá trong thực tế vẫn còn khoảng cách. Chương trình giáo dục phổ thông định hướng phát triển phẩm chất, năng lực, nhưng nếu đề kiểm tra vẫn chủ yếu yêu cầu ghi nhớ, tái hiện hoặc thực hiện các dạng bài quen thuộc thì điểm số cao chưa chắc đồng nghĩa với năng lực cao.
Năng lực thực phải thể hiện ở khả năng vận dụng kiến thức vào tình huống mới, giải quyết vấn đề, lập luận, phản biện, giao tiếp và tự học.
Một vấn đề mới cũng đang đặt ra là sự xuất hiện của trí tuệ nhân tạo. Học sinh có thể sử dụng AI để giải bài tập, viết báo cáo và tạo sản phẩm học tập. Vì vậy, nếu giáo viên chỉ đánh giá sản phẩm cuối cùng thì ngày càng khó xác định chính xác năng lực thực của học sinh. Đây cũng là lý do cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức kiểm tra, đánh giá.
“Theo tôi, cốt lõi của bệnh thành tích nằm ở chỗ khi các con số trở thành mục tiêu thay vì là dữ liệu phản ánh chất lượng, thì rất dễ dẫn đến việc chạy theo kết quả bề ngoài. Vì vậy, muốn khắc phục bệnh thành tích phải thay đổi từ cơ chế quản lý chứ không thể chỉ yêu cầu giáo viên cho điểm nghiêm hơn”, thầy Vũ Ngọc Hòa cho hay.
Có thể thấy, khắc phục bệnh thành tích không chỉ là câu chuyện chấn chỉnh cách cho điểm hay yêu cầu giáo viên đánh giá nghiêm túc hơn. Vấn đề cốt lõi là thay đổi cách nhìn về chất lượng giáo dục: từ việc chạy theo những tỷ lệ “đẹp” sang ghi nhận đúng sự tiến bộ và năng lực thực của học sinh.










