Khắc phục lỗ hổng trong cơ chế hậu kiểm thực phẩm

Dư luận xã hội đang lo ngại về tình trạng thực phẩm bẩn, độc hại tồn tại từ nhiều năm nhưng chế tài xử phạt còn quá nhẹ.

Người dân kiểm tra đồ hộp kỹ trước khi mua. Ảnh Tiến Vĩnh/TTXVN

Người dân kiểm tra đồ hộp kỹ trước khi mua. Ảnh Tiến Vĩnh/TTXVN

Hàng loạt vụ thực phẩm bẩn liên tiếp bị phanh phui, từ chả giò, pate làm từ thịt lợn nhiễm dịch tả đến giá đỗ tẩm hóa chất, dầu giả, mới đây nhất là vụ 800 tấn mì tươi trộn hàn the, đặt ra nhiều vấn đề về trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm và cơ chế bảo vệ sức khỏe của người tiêu dùng.

Hậu kiểm đang bị lệ thuộc quá mức vào hồ sơ, giấy tờ

Trao đổi với phóng viên báo Tin tức và Dân tộc, luật sư Nguyễn Văn Tuấn, Giám đốc Công ty Luật TNHH TGS, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội cho rằng, lỗ hổng lớn nhất của cơ chế hậu kiểm hiện nay không nằm ở việc thiếu quy định, mà nằm ở cách vận hành và triết lý quản lý.

“Hậu kiểm đang bị hành chính hóa và lệ thuộc quá mức vào hồ sơ, giấy tờ. Thực tế, nhiều cuộc kiểm tra chủ yếu xoay quanh việc đối chiếu giấy phép, chứng nhận, hóa đơn, sổ sách. Khi doanh nghiệp có đủ giấy tờ hợp lệ, việc kiểm tra thường dừng lại ở đó, trong khi những yếu tố quyết định đến an toàn thực chất như nguồn gốc nguyên liệu, điều kiện sản xuất thực tế hay tính trung thực của thông tin công bố lại ít được kiểm tra sâu”, luật sư Nguyễn Văn Tuấn cho biết.

Như vậy bao lâu vẫn tồn tại nghịch lý, doanh nghiệp “đạt chuẩn trên giấy”, nhưng rủi ro vẫn tồn tại ngoài đời thực và chỉ lộ diện khi đã tích tụ đủ lớn để không thể che giấu. Uy tín lâu năm của doanh nghiệp vô tình tạo ra một “vùng miễn dịch giám sát”, khiến các thương hiệu quen mặt thường được xếp vào nhóm rủi ro thấp, tần suất kiểm tra giảm và mức độ nghi ngờ cũng giảm theo. Chính cơ chế này cho phép các sai phạm có tính hệ thống kéo dài nhiều năm trong âm thầm.

Theo luật sư Đỗ Minh Hiển, Văn phòng luật sư JVN, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, các vụ việc kinh doanh thực phẩm bẩn liên tiếp xảy ra thời gian qua với các thủ đoạn ngày càng tinh vi, có sự câu kết, tổ chức chặt chẽ giữa những đối tượng thu mua và doanh nghiệp chế biến gây nhiều hệ lụy xấu cho xã hội, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe, quyền lợi của người tiêu dùng.

Vụ việc gây chú ý dư luận vừa qua là lực lượng chức năng đã phát hiện 130 tấn thịt lợn nhiễm dịch tả lợn châu Phi tại kho Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long (Halong Canfoco), trong đó khoảng 2 tấn đã được chế biến thành sản phẩm.

Theo luật sư Đỗ Minh Hiển, vụ việc trên cho thấy, thực phẩm bẩn đã không chỉ hiện diện tại các điểm bán hàng nhỏ lẻ, ở các chợ dân sinh hoặc địa bàn vùng sâu, vùng xa mà đã len lỏi vào doanh nghiệp chế biến có uy tín và thương hiệu lâu năm dẫn đến sự hoài nghi về sự an toàn thực phẩm trên bàn ăn của mỗi gia đình.

Luật An toàn thực phẩm năm 2010 được sửa đổi năm 2018 đã có quy định rất rõ ràng về các hành vi bị nghiêm cấm trong an toàn thực phẩm trong đó nghiêm cấm “Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc chết không rõ nguyên nhân, bị tiêu hủy để sản xuất, kinh doanh thực phẩm” (Điều 5, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 được sửa đổi năm 2018).

Hiện theo quy định của pháp luật, hành vi sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh để sản xuất, kinh doanh bị xử lý theo các chế tài hành chính hoặc hình sự tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm.

“Về chế tài hình sự: Hành vi mua bán, sử dụng thực phẩm có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị điều tra, truy tố và xét xử theo quy định tại Điều 317, Bộ luật Hình sự (BLHS) 2017, được sửa đổi bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều BLHS năm 2025 với khung hình phạt cao nhất đến 20 năm tù trong trường hợp: Thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá 500.000.000 đồng trở lên (điểm đ, khoản 4, Điều 317 BLHS )”, luật sư Đỗ Minh Hiển cho biết.

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 - 5 năm (khoản 5, Điều 317 BLHS).

Giới luật sư cho rằng, trong vụ án này, Cơ quan điều tra đã khởi tố để điều tra các cá nhân có hành vi sai phạm trong việc mua bán, sử dụng thịt lợn nhiễm bệnh để sản xuất kinh doanh thực phẩm. Cơ quan điều tra cũng có thể mở rộng điều tra để xem xét trách nhiệm hình sự của các cơ sở giết mổ đã giết mổ, cung cấp thịt lợn nhiễm bệnh cho các đối tượng thu mua trong trường hợp có căn cứ chứng minh các đối tượng ở các cơ sở giết mổ lợn biết lợn mắc bệnh mà vẫn giết mổ và bán cho các đối tượng thu mua”, luật sư Đỗ Minh Hiển cho biết.

Cần siết những ‘tấm vé thông hành’

Đề cập về câu chuyện khi giấy phép và quy trình có nguy cơ trở thành “tấm vé thông hành”, pháp luật cần siết lại những điểm nào để tăng sức răn đe?, luật sư Nguyễn Văn Tuấn cho rằng: “Một vấn đề đáng lo ngại là cơ chế hậu kiểm hiện nay chưa gắn chặt trách nhiệm cá nhân với trách nhiệm pháp nhân. Khi sai phạm bị phát hiện, việc xử lý thường dừng ở mức phạt hành chính đối với doanh nghiệp, trong khi trách nhiệm của người ra quyết định, người phê duyệt hay người kiểm soát nội bộ không được truy cứu đến cùng”.

Điều này tạo ra tâm lý coi vi phạm là “chi phí kinh doanh” có thể tính toán được. Khi chi phí vi phạm thấp hơn lợi ích thu được, thì hậu kiểm không còn là công cụ phòng ngừa, mà chỉ là bước xác nhận hậu quả khi sự việc đã vượt quá ngưỡng chịu đựng của xã hội.

Nguy hiểm hơn, khi việc cấp phép, thẩm định và hậu kiểm bị lệ thuộc quá nhiều vào quy trình nội bộ, thiếu minh bạch và thiếu cơ chế giám sát chéo hiệu quả, những hồ sơ được coi là “đủ giấy tờ” có thể chỉ là sản phẩm của một quy trình bị tha hóa, chứ không còn là bảo chứng cho an toàn thực chất.

Theo luật sư Nguyễn Văn Tuấn, vấn đề cốt lõi không phải là ban hành thêm giấy phép mới, mà là tái thiết cơ chế hậu kiểm theo hướng đánh thẳng vào rủi ro thực chất và trách nhiệm cá nhân. Pháp luật cần chuyển trọng tâm từ kiểm tra hồ sơ sang kiểm tra bản chất, siết chặt trách nhiệm pháp lý của người đứng đầu, coi hậu kiểm là cơ chế phòng ngừa sớm thay vì xác nhận muộn. Đồng thời, cần tăng cường giám sát chéo, minh bạch hóa kết quả kiểm tra và mở rộng vai trò giám sát của xã hội, báo chí và người tiêu dùng.

Cuối cùng, chế tài phải đủ mạnh để chi phí pháp lý của hành vi vi phạm vượt xa lợi ích kinh tế thu được. Chỉ khi không còn “vùng an toàn” cho cả doanh nghiệp lẫn cơ quan quản lý, thì hậu kiểm mới thực sự bảo vệ người tiêu dùng và giữ gìn kỷ cương của thị trường.

“Vụ việc này một lần nữa cho thấy, công tác đảm bảo an toàn thực phẩm cần được chú trong hơn nữa. Các cơ quan chức năng cần làm rõ và khắc phục các ‘lỗ hổng’ trong quản lý đảm bảo an toàn thực phẩm, xây dựng các cơ chế kiểm soát liên ngành và thường xuyên, nâng cao mức xử phạt đối với các hành vi mua bán, sử dụng, kinh doanh thực phẩm vi phạm các điều kiện về an toàn để nỗi lo ‘thực phẩm bẩn’ không còn hiện diện trong tâm trí người tiêu dùng và trên bàn ăn của mỗi gia đình”, luật sư Đỗ Minh Hiển nhấn mạnh.

Minh Phương/Báo Tin tức và Dân tộc

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/xa-hoi/khac-phuc-lo-hong-trong-co-che-hau-kiem-thuc-pham-20260118154436672.htm