“Khai mỏ” đồng chiêm trũng
Lấy nông làm nghiệp, biết bao thế hệ người dân sinh sống trên địa bàn xã Hùng Việt từng thấm thía nỗi nhọc nhằn đến cực khổ từ “lời nguyền” mang tên đồng chiêm trũng. Đất tuy rộng, tương đối màu mỡ nhưng chỉ canh tác được một vụ, thời gian còn lại trong năm, cả cánh đồng bạt ngàn chìm trong nước. Hạt lúa làm ra chẳng đủ nuôi người. Thế nhưng, bằng sự sáng tạo, nhạy bén với nhu cầu thị trường, chính quyền cùng những nông dân chân lấm tay bùn đã biến bất lợi của đồng đất quê hương thành “mỏ vàng” lộ thiên, mang lại nguồn thu hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỷ đồng mỗi năm, cao gấp nhiều lần trồng lúa truyền thống...
Xé bỏ “lời nguyền”
Sinh sống nơi đồng nước Văn Khúc, quen với công việc lao động chân tay, 65 tuổi ông Đặng Văn Được vẫn giữ được phong thái nhanh nhẹn, hoạt bát, sức vóc tráng kiện. Bao năm gắn bó với cánh đồng chiêm trũng, ông hiểu hơn ai hết nỗi vất vả của người nông dân khi đồng ruộng phần lớn thời gian ngập úng, cây lúa không đủ nuôi người. “Sống ngâm xương, chết ngâm da”, “Nửa năm đi bằng chân, nửa năm đi bằng tay” (chèo thuyền) là những câu nói vui mà như lời thở than cay đắng của người dân nơi đây khi cái đói, cảnh đứt bữa, giáp hạt cứ đeo bám hết tháng này qua năm khác.

Ông Đặng Văn Được ở xã Hùng Việt hiện có 16.000m
2
mặt nước nuôi tôm càng xanh.
Gần ba thập niên trước, thấy một số hộ quây lưới trên ruộng trũng nuôi cá thương phẩm thu lợi nhuận cao hơn trồng lúa, nhiều gia đình ở Văn Khúc làm theo. Những vụ cá thắng đậm tiếp sức cho người dân mạnh dạn đào ao, chuyển sang nuôi thủy sản. Khi ấy, đất trồng lúa chưa thể tùy tiện chuyển đổi mục đích sử dụng, chính quyền địa phương cũng lúng túng trước bài toán vừa bảo đảm quy định, vừa tìm sinh kế cho người dân. Thế rồi, những đêm tối trên cánh đồng bỗng sáng ánh đuốc, đèn măng xông; người dân tranh thủ đào ao, đắp bờ, quyết tìm đường thoát nghèo. Chỉ trong thời gian ngắn, khoảng 70% số hộ đã đào ao thả cá.
Từ những ao nuôi ban đầu, người dân từng bước tích lũy kinh nghiệm, nhạy bén lựa chọn đối tượng nuôi theo nhu cầu thị trường. Hơn chục năm trước, nhận thấy tôm càng xanh phù hợp với điều kiện nguồn nước, có giá trị kinh tế cao, ông Được cùng nhiều hộ dân chuyển sang đầu tư nuôi tôm. Khi sản phẩm được xây dựng nhãn hiệu chung, nghề nuôi tôm càng xanh càng có thêm điều kiện phát triển. Gia đình ông Được hiện có 16.000m2 mặt nước nuôi tôm, sản lượng khoảng 3 tấn mỗi năm. Với giá bán dao động 200.000 - 300.000 đồng/kg tùy thời điểm, doanh thu đạt khoảng 600 - 900 triệu đồng/năm trước khi trừ chi phí sản xuất. Từ những thửa ruộng lầy thụt, năng suất thấp, người dân đã tạo dựng được sinh kế có giá trị cao ngay trên đồng đất quê hương.
Ông Hoàng Minh Sơn - Trưởng thôn Văn Khúc cho biết: “Nuôi tôm càng xanh là hoạt động kinh tế thế mạnh, giúp nhiều hộ dân trong thôn thoát nghèo, có cuộc sống sung túc. Toàn thôn hiện có hơn 100 hộ nuôi, sản lượng đạt khoảng 20 - 30 tấn mỗi năm, mang lại nguồn thu khoảng 6 tỷ đồng”. Cùng với Văn Khúc, trên cánh đồng Láng Chương rộng khoảng 500ha, người dân xã Chương Xá trước đây, nay thuộc xã Hùng Việt, cũng tìm thấy cơ hội làm giàu từ những diện tích ruộng thường xuyên ngập nước. Khi địa phương triển khai giao khoán diện tích không thể canh tác trong thời gian ngập úng, ông Nguyễn Văn Duyên nhận thầu khoảng 60ha, đưa cả gia đình ra giữa đồng dựng lán, lập trại. Trên diện tích mặt nước rộng lớn, gia đình ông phát triển các giống cá thương phẩm như trắm đen, trắm cỏ, chép, mè; đồng thời tận dụng nguồn lợi sẵn có để nuôi tôm càng xanh, vịt, gà, lợn và trồng sen. Những thửa ruộng còn khả năng canh tác cũng được tận dụng trồng lúa. Riêng diện tích lúa vụ chiêm khoảng 1,7 mẫu cho sản lượng bình quân 3 tấn thóc mỗi năm, đáp ứng nhu cầu lương thực của gia đình và phục vụ chăn nuôi.
Từ những mô hình như trên, đồng chiêm trũng không còn là vùng đất chỉ gắn với những bất lợi về địa hình, canh tác. Mặt nước, cây lúa và vật nuôi được khai thác, kết hợp linh hoạt để tạo thêm nguồn thu, nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Điều đáng quý là người dân đã chủ động tìm hướng đi phù hợp với điều kiện thực tế, biến khó khăn thành lợi thế sản xuất.
“Vựa cá” vùng đồi
Sau sáp nhập, xã Hùng Việt có điều kiện phát huy lợi thế về diện tích mặt nước, hệ thống thủy lợi và truyền thống nuôi trồng thủy sản của người dân. Toàn xã hiện có hơn 330ha nuôi trồng thủy sản, sản lượng đạt gần 1.100 tấn. Cùng với các giống cá truyền thống như trắm, trôi, mè, chép, người dân từng bước mở rộng nuôi những con giống có giá trị kinh tế cao như tôm càng xanh, ốc nhồi.

Tôm càng xanh được nuôi ở đồng nước Văn Khúc, xã Hùng Việt có giá bán 200.000 - 300.000 đồng/kg tùy thời điểm.
Tùy điều kiện từng vùng, các hộ lựa chọn mô hình nuôi cá thâm canh, ứng dụng quạt nước tạo ôxy, quản lý thức ăn và theo dõi môi trường ao nuôi; hoặc phát triển thủy sản đặc sản nhằm nâng cao giá trị trên cùng diện tích mặt nước. Với những diện tích ruộng chỉ canh tác được một vụ lúa, mô hình kết hợp một vụ lúa, một vụ cá cũng giúp tận dụng thời gian ngập nước, hạn chế bỏ hoang và tạo thêm nguồn thu.
Một dấu mốc mới trong quá trình phát triển nghề nuôi tôm càng xanh ở Hùng Việt là sự ra đời của Hợp tác xã (HTX) Chăn nuôi và Dịch vụ tôm càng xanh xã Hùng Việt. Được thành lập ngày 30/7/2026, HTX mở ra hướng liên kết sản xuất mới, tạo điều kiện để các hộ nuôi chia sẻ kinh nghiệm, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, tổ chức sản xuất theo hướng hàng hóa và từng bước gắn kết với thị trường tiêu thụ. Đây cũng là bước đi cần thiết để nghề nuôi tôm càng xanh phát triển ổn định hơn, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào kinh nghiệm riêng lẻ và biến động thị trường.
Theo ông Trần Minh Nghiệp - Chủ tịch UBND xã Hùng Việt, địa phương xác định phát huy lợi thế mặt nước, nâng cao giá trị sản xuất thủy sản phải gắn với việc tạo điều kiện cho người dân đầu tư ổn định, lâu dài. Xã tập trung hoàn thiện hạ tầng thủy lợi, giao thông nội đồng; khuyến khích phát triển các đối tượng nuôi có giá trị kinh tế; đồng thời phối hợp với cơ quan chuyên môn hướng dẫn kỹ thuật, phòng ngừa dịch bệnh và hỗ trợ quảng bá, tiêu thụ sản phẩm. Cùng với việc tạo điều kiện cho người dân thuê đất, mặt nước để đầu tư sản xuất, xã quan tâm nâng cấp hệ thống đê điều, kênh mương cấp, thoát nước, trong đó có dự án cải tạo, nâng cấp đê Hữu Ngòi Me. Hạ tầng đồng bộ sẽ giúp chủ động nguồn nước, hạn chế rủi ro do ngập úng hoặc thiếu nước, tạo điều kiện duy trì các vùng nuôi tập trung. Việc quảng bá sản phẩm qua mạng xã hội, các nền tảng thương mại điện tử cũng được đẩy mạnh, gắn với xây dựng thương hiệu và kết nối doanh nghiệp, hợp tác xã với các đơn vị phân phối, tiêu thụ.
Tuy nhiên, để phát triển bền vững, Hùng Việt cần tổ chức sản xuất theo chuỗi liên kết, nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo đảm an toàn môi trường vùng nuôi, đồng thời chú trọng truy xuất nguồn gốc, mở rộng thị trường tiêu thụ ổn định. Đây là những điều kiện quan trọng để thủy sản không chỉ gia tăng về sản lượng mà còn nâng cao giá trị kinh tế, tạo sinh kế bền vững cho người dân trên chính đồng ruộng quê hương.
Từ những ao cá được đào chui trong đêm ở Văn Khúc đến các vùng nuôi thủy sản rộng lớn trên cánh đồng Láng Chương, hành trình “khai mỏ” đồng chiêm trũng là câu chuyện về sự năng động, sáng tạo của người nông dân nơi đây. Khi những bất lợi của tự nhiên được nhìn nhận bằng tư duy đổi mới, kinh nghiệm sản xuất được kết hợp với tiến bộ kỹ thuật và tổ chức liên kết phù hợp, mặt nước quê hương sẽ trở thành nguồn lực phát triển. Đó cũng là hướng đi để Hùng Việt tiếp tục nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, cải thiện thu nhập và xây dựng những vùng quê no ấm từ chính tiềm năng sẵn có.
Nguồn Phú Thọ: https://baophutho.vn/khai-mo-dong-chiem-trung-263497.htm
