Khi dự báo thời tiết trở thành công cụ điều hành quốc gia
Khoảng thời gian dự báo tạo ra trước thiên tai đang trở thành giá trị lớn nhất của ngành khí tượng; nhận diện càng sớm xu thế thời tiết, các cơ quan, doanh nghiệp và người dân càng có thêm thời gian chuẩn bị ứng phó, giảm thiểu thiệt hại.
Theo TS Hoàng Phúc Lâm, Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, đây cũng là thay đổi căn bản của công tác dự báo trong những năm gần đây. Nếu trước kia trọng tâm là nhận diện hiện tượng khí tượng, thì nay mục tiêu là cung cấp thông tin phục vụ việc ra quyết định.

TS Hoàng Phúc Lâm, Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia. Ảnh: Kiều Thoan Thu
Trong bối cảnh thời tiết cực đoan xuất hiện với tần suất cao hơn và diễn biến ngày càng khó lường, một cảnh báo sớm có thể tạo ra "khoảng thời gian vàng" để giảm thiểu thiệt hại.
"Dự báo sẽ chưa phát huy hết giá trị nếu người sử dụng vẫn không biết cần chuẩn bị gì, chuẩn bị ở đâu và từ thời điểm nào. Điều quan trọng là thông tin dự báo phải giúp các quyết định được đưa ra sớm hơn", TS Hoàng Phúc Lâm trao đổi với phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội.
El Ninõ là ví dụ rõ nhất cho cách tiếp cận này. Theo các mô hình dự báo mới nhất, hiện tượng El Ninõ đã hình thành từ tháng 6-2026 và có khả năng kéo dài đến nửa đầu năm 2027. Nhiệt độ mặt nước biển khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương đang tăng khá nhanh; xác suất El Ninõ đạt cường độ rất mạnh vào cuối năm 2026 và đầu năm 2027 được đánh giá khoảng 25%-30%.
Tuy nhiên, theo TS Hoàng Phúc Lâm, điều đáng quan tâm không phải El Ninõ mạnh đến đâu, mà là xu thế này đã được nhận diện từ rất sớm.
"Hiện nay chúng tôi có thể đưa ra các nhận định trước 6-9 tháng. Khoảng thời gian đó đủ để các bộ, ngành và địa phương xây dựng kế hoạch sản xuất nông nghiệp, tích nước cho hồ chứa, điều hành nguồn nước, chuẩn bị phương án bảo đảm an ninh năng lượng và phòng, chống thiên tai", ông cho biết.
Dự báo phải trả lời câu hỏi "cần làm gì?"
TS Hoàng Phúc Lâm cho biết năng lực dự báo khí hậu của Việt Nam đã có bước tiến đáng kể nhờ mô hình số trị, hệ thống quan trắc và dữ liệu lớn. Nếu trước đây nhiều nhận định chỉ thực hiện được trước vài tuần hoặc vài tháng, thì nay nhiều xu thế khí hậu quy mô lớn đã có thể nhận diện trước từ 6 đến 9 tháng.

Nắng nóng diện rộng được ghi nhận ở Hà Nội. Ảnh: Bảo Châu
TS Lâm dự báo El Ninõ năm nay sẽ tác động rất khác nhau giữa các vùng.
Tại Trung Bộ, lượng mưa trong các tháng 10, 11 và 12 được dự báo thiếu hụt 20%-50% so với trung bình nhiều năm, làm gia tăng nguy cơ hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn.
Trong khi đó, từ tháng 7 đến tháng 9, nhiều khu vực Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ và cả thượng nguồn sông Mekong lại có khả năng xuất hiện lượng mưa cao hơn trung bình nhiều năm.
Sự phân hóa này mở ra cơ hội để chủ động tích nước ngay từ mùa mưa, điều tiết hồ chứa và điều chỉnh kế hoạch sản xuất trước khi bước vào giai đoạn khô hạn cuối năm.
Đối với bão, dự báo năm nay Biển Đông có khoảng 8-10 cơn, thấp hơn mức trung bình nhiều năm từ 12-14 cơn; trong đó khoảng 3-5 cơn có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam.
Dù vậy, TS Hoàng Phúc Lâm lưu ý số lượng bão ít hơn không đồng nghĩa với mức độ rủi ro giảm.
"Trong các năm El Ninõ, khoảng thời gian không có bão thường kéo dài. Khi bão xuất hiện trở lại, điều kiện đại dương đã tích lũy nhiều năng lượng nên bão có thể mạnh lên rất nhanh, di chuyển nhanh hơn và diễn biến cường độ cũng phức tạp hơn".

Dự báo thời tiết có vai trò quan trọng đối với ngành du lịch. Ảnh: Kiều Thoan Thu
Ông dẫn lại trận mưa lịch sử tại Quảng Ninh cuối tháng 7 và đầu tháng 8-2015 - một năm chịu tác động mạnh của El Ninõ - để cho thấy tổng lượng mưa cả năm có thể thiếu hụt nhưng vẫn xuất hiện những trận mưa dữ dội trong thời gian rất ngắn, gây ngập lụt, sạt lở đất và thiệt hại nghiêm trọng.
So với quá khứ, El Ninõ năm nay có diễn biến khá giống năm 2023 vì đều hình thành từ giữa năm và kéo dài đến đầu năm sau. Nếu xét riêng về cường độ, hiện tượng năm nay có thể tương đương El Ninõ 2015. Tuy nhiên, El Ninõ 2015-2016 kéo dài gần hai năm nên tác động đến nắng nóng, hạn hán, nguồn nước và sản xuất nông nghiệp gay gắt hơn nhiều.
Theo ông, đánh giá rủi ro thiên tai không thể chỉ dựa vào số lượng hiện tượng mà phải xem xét mức độ tác động đối với đời sống và sản xuất.
Quan điểm này cũng được Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành nhấn mạnh tại Hội nghị Dự báo, cảnh báo sớm khí tượng thủy văn năm 2026 tổ chức vào cuối tháng 6. Biến đổi khí hậu đang làm gia tăng tính khắc nghiệt và bất thường của thời tiết, khiến ngành khí tượng phải chuyển mạnh từ dự báo hiện tượng sang dự báo tác động, xác định khu vực chịu ảnh hưởng, mức độ rủi ro và những việc cần triển khai; đồng thời tiếp tục hiện đại hóa hệ thống quan trắc, kết nối dữ liệu liên ngành, đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số.
Ở góc độ quốc tế, bà Ramla Khalidi, Trưởng đại diện Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam, cho rằng thách thức hiện nay không nằm chủ yếu ở độ chính xác của dự báo mà ở khả năng đưa thông tin đến cộng đồng theo cách dễ hiểu để người dân có thể hành động ngay. Đây cũng là mục tiêu của sáng kiến toàn cầu "Cảnh báo sớm cho tất cả mọi người", hướng tới việc mọi người đều được tiếp cận hệ thống cảnh báo sớm đa thiên tai trước năm 2027.
Hiệu quả của cảnh báo sớm đã được kiểm chứng tại Việt Nam. Số liệu từ Cục Quản lý đê điều và phòng, chống thiên tai cho thấy giai đoạn 2020-2025, thông tin dự báo đã hỗ trợ hướng dẫn hơn 3,2 triệu lượt tàu thuyền với trên 16 triệu lượt lao động trên biển tránh trú bão an toàn; gần 758.000 hộ dân ở khu vực nguy cơ cao được sơ tán trước thiên tai.
Theo TS Hoàng Phúc Lâm, thời gian tới ngành khí tượng sẽ tiếp tục tăng cường quan trắc, cập nhật liên tục các kịch bản El Ninõ và các bản tin dự báo nguồn nước để phục vụ điều hành.
"Dự báo sớm tạo ra quỹ thời gian quý giá để chuẩn bị. Tận dụng tốt cơ hội này để tích nước, điều chỉnh sản xuất và chủ động ứng phó sẽ giúp giảm đáng kể thiệt hại do thiên tai", ông nói.













