Khó thương mại hóa kết quả nghiên cứu đại học vì 'làm xong mới tìm người mua'
PGS.TS Trương Ngọc Kiểm cho rằng thương mại hóa kết quả nghiên cứu đại học đang vướng từ tư duy nghiên cứu, tâm lý e ngại rủi ro đến thiếu vốn ở giai đoạn thử nghiệm và những rào cản khi đưa sản phẩm ra thị trường.
Tư duy "khoa học vị khoa học" hơn là "khoa học vị nhân sinh"
Phát biểu tại Hội thảo khoa học Kết nối công nghệ và đổi mới sáng tạo trong khuôn khổ Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026, PGS. TS Trương Ngọc Kiểm đánh giámặc dù hành lang pháp lý như Nghị quyết 57 cùng các luật và nghị định liên quan đã tạo ra cơ chế tương đối thông thoáng, hành trình đưa các kết quả nghiên cứu khoa học từ phòng thí nghiệm đại học ra thị trường vẫn vướng phải những rào cản nội tại dai dẳng.
Thực tế tại Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy, sau 2 năm Nghị quyết 57 đi vào thực tế, năm 2025 đơn vị này dự kiến thu về hơn 300 tỷ đồng từ các hoạt động thương mại hóa và chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, theo PGS. TS Trương Ngọc Kiểm, đây vẫn là "một con số rất nhỏ bé" khi đặt cạnh quy mô lực lượng hơn 3.000 nhà khoa học và hơn 1.200 sản phẩm công nghệ hiện có. Rào cản lớn nhất hiện nay không hoàn toàn nằm ở hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, mà xuất phát từ tư duy, tâm lý e ngại rủi ro và các vướng mắc cơ chế ở giai đoạn thử nghiệm.

PGS. TS Trương Ngọc Kiểm - Giám đốc Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội phát biểu tại hội thảo.
Điểm nghẽn đầu tiên nằm ngay ở vạch xuất phát của chuỗi giá trị nghiên cứu. Theo mô hình tuyến tính truyền thống, các nhà khoa học thường bắt đầu bằng những chủ đề họ cảm thấy hay, hấp dẫn hoặc tin rằng sẽ giải quyết được một vấn đề xã hội - rồi tiến hành nghiên cứu và tạo ra sản phẩm. Sau khi sản phẩm hoàn thành, nhà trường mới bắt đầu đi tìm kiếm thị trường và gõ cửa doanh nghiệp.
Chính quy trình "làm xong mới tìm người mua" này khiến sản phẩm ra đời không ăn khớp với bài toán thực tế của sản xuất thương mại.
"Khoảng cách giữa nhà trường và thị trường trở nên lớn hơn vì thiếu khâu tham vấn thị trường, đặt hàng từ doanh nghiệp ngay từ khi đặt đề bài, xuất phát từ quan điểm: Khoa học vị khoa học hơn là khoa học vị nhân sinh. Đây là lý do cần chuyển đổi mô hình từ tuyến tính sang mô hình đổi mới sáng tạo mở, đồng kiến tạo", PGS. TS Trương Ngọc Kiểm nhấn mạnh.
Cùng với đó là hiện trạng đứt gãy "vốn mồi" ở giai đoạn thử nghiệm mà PGS.TS Kiểm ví như “thiếu chiếc dây điện nối từ cột điện vào nhà”. Trong cấu trúc nguồn vốn đầu tư cho khoa học công nghệ, các cơ chế hiện hành như Nghị quyết 57 đã mở ra nguồn lực tương đối tốt cho giai đoạn nghiên cứu cơ bản ban đầu, đồng thời hỗ trợ khá nhiều ở giai đoạn thương mại hóa quy mô lớn sau này. Tuy nhiên, nguồn vốn lại bị "gãy" ở khoảng giữa: thiếu khoản kinh phí nhỏ dành cho giai đoạn kiểm chứng, đánh giá khái niệm (Proof of Concept - PoC) và chế tạo sản phẩm mẫu (Prototype).
PGS. TS Trương Ngọc Kiểm đã sử dụng hình ảnh ẩn dụ đầy thuyết phục để mô tả sự thiếu hụt này: "Chúng ta bỏ tiền xây dựng nhà máy điện, xây dựng đường dây lớn, nhưng lại thiếu dây nối từ cột điện vào trong nhà để phát sáng...".
Thực vậy, doanh nghiệp hay các nhà đầu tư mạo hiểm không thể “xuống tiền” nếu sản phẩm mới chỉ dừng lại ở quy trình trên giấy hoặc kết quả quy mô phòng thí nghiệm. Nếu không có vốn mồi để nhà khoa học hoàn thiện mẫu thử nghiệm và đem đi kiểm thử, sản phẩm chưa thể chứng minh được tính khả thi kỹ thuật lẫn kinh tế để thuyết phục thị trường.
Tâm lý sợ trách nhiệm cản trở thương mại hóa sản phẩm
Dù hành lang pháp lý hiện nay đã giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục trong việc định giá, chuyển giao và thương mại hóa tài sản trí tuệ, áp lực tâm lý đối với đội ngũ quản lý nhà trường vẫn vô cùng nặng nề. Bản chất các kết quả nghiên cứu khoa học được tạo ra từ ngân sách nhà nước vẫn là tài sản công.
Sự chưa rõ ràng trong cơ chế định giá tài sản trí tuệ dẫn đến một nghịch lý tâm lý: nếu dự án cất trong kho không thương mại hóa thì người quản lý "an toàn", nhưng nếu thương mại hóa thành công và thu về số tiền lớn, họ lại đối mặt với nguy cơ bị các cơ quan chức năng kiểm tra, xem xét lại cơ sở định giá và phân chia lợi ích.
"Tâm lý e ngại, yếu tố sợ trách nhiệm cũng là một rào cản lớn trong quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học ở trường đại học", PGS.TS Trương Ngọc Kiểm nhận định.
Theo ông Kiểm, thương mại hóa đòi hỏi phải xác định tương đối rõ quyền đối với kết quả nghiên cứu, quyền sở hữu trí tuệ, quyền khai thác, giá trị công nghệ và nguyên tắc phân chia lợi ích giữa tổ chức, tác giả, nhóm nghiên cứu và các đối tác. Pháp luật mới đã trao quyền tự chủ lớn hơn cho tổ chức được giao quản lý, sử dụng kết quả, vấn đề tiếp theo là chuyển quyền tự chủ đó thành các quy trình nội bộ minh bạch, nhanh và có khả năng vận hành.
Cùng với đó, hiện tượng nhầm lẫn vai trò khi biến nhà khoa học thành nhà kinh doanh có thể dẫn tới kết quả là "mất cả hai". Theo PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, tại các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tiên tiến, quy trình thương mại hóa thông qua doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off) được thiết kế rất minh bạch và chuyên nghiệp. Nhà khoa học được khuyến khích tham gia với vai trò chuyên gia tư vấn, cố vấn kỹ thuật hoặc Giám đốc công nghệ (CTO), trong khi vai trò điều hành kinh doanh (CEO) được giao cho các nhà quản trị chuyên nghiệp.
Ngược lại, ở Việt Nam, nhiều giảng viên và nhà khoa học sau khi nghiên cứu xong muốn trực tiếp đứng ra làm CEO điều hành doanh nghiệp spin-off. Việc thiếu kiến thức, kỹ năng thị trường và bị phân tán nguồn lực giữa nhiệm vụ giảng dạy với quản trị kinh doanh thường dẫn đến thất bại cho cả doanh nghiệp lẫn sự nghiệp nghiên cứu.
"Việt Nam thì rất nhiều nhà khoa học sẵn sàng xin làm điều hành. Và như vậy chúng ta biến một nhà khoa học, một giảng viên thành một nhà kinh doanh và đôi khi mất cả hai", PGS. TS Trương Ngọc Kiểm cảnh báo.
Theo ông, Việt Nam cần hình thành đội ngũ chuyên nghiệp làm cầu nối giữa khoa học, công nghệ, đầu tư và thị trường.
Điểm nghẽn lại xuất hiện ở giai đoạn sản phẩm công nghệ đã hoàn thành và sẵn sàng thương mại hóa thông qua các công ty spin-off. Tuy nhiên, theo PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, mô hình này đang đặt ra các vấn đề mới về quyền sở hữu trí tuệ, tỷ lệ góp vốn, nhân sự của trường đại học tham gia doanh nghiệp, chia sẻ lợi ích và xung đột lợi ích.
Ngoài ra, dù tạo ra các giải pháp công nghệ mới mang tính bứt phá, các doanh nghiệp khởi nguồn từ đại học lại khó có thể bán được sản phẩm cho các cơ quan nhà nước hay các tập đoàn, ngân hàng lớn vì vướng quy định về đấu thầu và mua sắm công.
Các tiêu chuẩn thầu hiện hành thường đòi hỏi doanh nghiệp dự thầu phải có "hợp đồng tương tự" hoặc báo cáo tài chính chứng minh năng lực hoạt động nhiều năm. Đây là điều kiện mà một doanh nghiệp công nghệ mới thành lập (spin-off/startup) khó có thể đáp ứng.
Để tháo gỡ triệt để những điểm nghẽn nêu trên, bài tham luận của PGS. TS Trương Ngọc Kiểm đưa ra thông điệp cốt lõi: Việt Nam cần chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình "liên kết 3 nhà" thụ động sang "Hệ sinh thái đồng kiến tạo" (Co-creation Ecosystem).
Trong hệ sinh thái đó, doanh nghiệp đóng vai trò dẫn dắt thị trường, tham gia đặt hàng, đồng đầu tư và thỏa thuận phân chia quyền sở hữu trí tuệ ngay từ giai đoạn ý tưởng. Nhà trường tập trung vào sáng tạo tri thức gắn liền với bài toán thực tiễn, phân định rõ vai trò của nhà khoa học. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, xây dựng các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox), bổ sung nguồn "vốn mồi" giai đoạn sớm và mở cơ chế ưu đãi mua sắm công cho các sản phẩm đổi mới sáng tạo nội địa.
Khi niềm tin được củng cố và lợi ích giữa các bên được chia sẻ minh bạch, những kết quả nghiên cứu trong trường đại học mới có thể bước qua "thung lũng chết" để trở thành hàng hóa có giá trị, đóng góp thực chất cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
