Khoa học công nghệ mở hướng nâng giá trị sản vật vùng cao
Ông Phạm Quyết Tiến, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Công nghệ hỗ trợ nông nghiệp cho biết, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được kỳ vọng góp phần tháo gỡ những điểm nghẽn, nâng chất lượng, giá trị và khả năng cạnh tranh của sản vật vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Thưa ông, đâu là những điểm nghẽn lớn nhất về công nghệ đang hạn chế việc nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị các sản vật vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi?
Theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất không chỉ là thiếu máy móc hay công nghệ hiện đại, mà là thiếu một hệ thống công nghệ đồng bộ, phù hợp với quy mô và điều kiện của từng vùng. Nhiều nơi vẫn sản xuất phân tán, giống và quy trình canh tác chưa được chuẩn hóa; việc kiểm soát chất lượng nguyên liệu chưa ổn định. Sau thu hoạch, tổn thất còn cao do thiếu công nghệ sơ chế, sấy, bảo quản và chế biến phù hợp. Bên cạnh đó, dữ liệu về vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng và khả năng kết nối thị trường còn yếu. Vì vậy, sản vật có giá trị văn hóa và chất lượng tốt nhưng thường mới dừng ở dạng nguyên liệu thô, sản lượng không ổn định và khó tạo ra giá trị gia tăng cao.

Ông Phạm Quyết Tiến, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Công nghệ hỗ trợ nông nghiệp cho biết, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang được kỳ vọng góp phần tháo gỡ những điểm nghẽn, nâng chất lượng, giá trị và khả năng cạnh tranh của các sản vật vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Từ góc độ nghiên cứu và chuyển giao, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có thể tạo chuyển biến rõ nhất ở bốn khâu. Thứ nhất là chuẩn hóa giống, quy trình canh tác, dinh dưỡng và phòng trừ dịch hại theo điều kiện sinh thái của từng địa bàn. Thứ hai là áp dụng cơ giới hóa và công cụ giám sát đơn giản, chi phí hợp lý để giảm phụ thuộc vào lao động thủ công và kiểm soát chất lượng đồng đều hơn. Thứ ba là đầu tư đúng vào khâu sau thu hoạch, nhất là sơ chế tại chỗ, sấy, bảo quản, chiết xuất và chế biến sâu, bởi đây là khâu quyết định khả năng kéo dài thời gian bảo quản và nâng giá trị sản phẩm. Thứ tư là số hóa thông tin vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, kiểm nghiệm, tiêu chuẩn hóa và thiết kế bao bì để sản phẩm đáp ứng yêu cầu của hệ thống phân phối và người tiêu dùng.
Quan điểm của chúng tôi là không chạy theo công nghệ đắt tiền. Công nghệ tốt phải giải quyết đúng bài toán của địa phương, sử dụng được trong điều kiện thực tế và tạo ra hiệu quả kinh tế có thể đo lường. Khi công nghệ gắn với tiêu chuẩn sản phẩm và đầu ra thị trường, người dân mới có động lực áp dụng lâu dài; doanh nghiệp mới yên tâm đầu tư; và đặc sản địa phương mới có thể phát triển thành sản phẩm hàng hóa bền vững.
Theo ông, cần lựa chọn và tổ chức chuyển giao công nghệ như thế nào để vừa phù hợp với điều kiện tự nhiên, tập quán sản xuất và năng lực của các chủ thể, vừa bảo đảm công nghệ có thể được tiếp nhận, vận hành và duy trì hiệu quả sau chuyển giao?
Theo tôi, nguyên tắc đầu tiên là công nghệ phải được lựa chọn từ nhu cầu thực tế của người sản xuất và thị trường, không bắt đầu từ thiết bị đang có sẵn. Trước khi chuyển giao cần khảo sát rõ điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, nguồn nước, quy mô vùng nguyên liệu, tập quán canh tác, khả năng đầu tư, trình độ vận hành và đầu ra sản phẩm. Trên cơ sở đó, nên ưu tiên công nghệ vừa sức, có cấu trúc mô-đun, dễ vận hành, dễ bảo dưỡng, sử dụng năng lượng và vật tư sẵn có tại địa phương, đồng thời có thể mở rộng khi sản lượng tăng.

Các doanh nghiệp, HTX tỉnh Lào Cai giới thiệu sản phẩm nông sản tiêu biểu của tỉnh đến người dân tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Nguyễn Lành/TTXVN
Chuyển giao công nghệ cũng không nên được hiểu đơn giản là bàn giao máy móc hoặc một bộ tài liệu kỹ thuật. Đây phải là một quá trình đồng hành. Viện và đơn vị tiếp nhận cần cùng thiết kế mô hình, triển khai thử nghiệm ở quy mô phù hợp, đo lường hiệu quả, điều chỉnh quy trình rồi mới nhân rộng. Đào tạo phải gắn với thực hành tại chỗ, sử dụng quy trình vận hành ngắn gọn, dễ hiểu, có hình ảnh minh họa và phù hợp với ngôn ngữ của cộng đồng khi cần thiết. Mỗi mô hình nên hình thành được nhóm kỹ thuật viên nòng cốt tại hợp tác xã hoặc địa phương để xử lý các vấn đề thường gặp mà không phụ thuộc hoàn toàn vào chuyên gia bên ngoài.
Một điều kiện quan trọng khác là phải tính đầy đủ bài toán vận hành sau chuyển giao: ai quản lý thiết bị, nguồn kinh phí bảo trì ở đâu, vật tư thay thế có dễ mua không, sản lượng tối thiểu để mô hình hòa vốn là bao nhiêu và sản phẩm được tiêu thụ qua kênh nào. Doanh nghiệp hoặc hợp tác xã cần đóng vai trò đầu mối tổ chức sản xuất và thị trường; người dân tham gia và cùng chia sẻ trách nhiệm; cơ quan quản lý hỗ trợ hạ tầng, tiêu chuẩn và cơ chế; viện nghiên cứu chịu trách nhiệm về quy trình, đào tạo và giám sát kỹ thuật.
Hiệu quả chuyển giao không nên chỉ được đánh giá bằng số lớp tập huấn hay số thiết bị đã lắp đặt. Cần theo dõi tỷ lệ người dân thực sự áp dụng, thời gian thiết bị hoạt động ổn định, mức giảm chi phí và tổn thất, tỷ lệ sản phẩm đạt chuẩn, khả năng tiêu thụ và thu nhập tăng thêm. Chỉ khi mô hình tự vận hành được sau thời gian hỗ trợ thì chuyển giao mới thực sự thành công.
Trong thời gian tới, Viện dự kiến ưu tiên những giải pháp, mô hình nào để đưa các kết quả nghiên cứu và công nghệ phù hợp vào thực tiễn sản xuất, chế biến sản vật vùng cao, thưa ông?
Trong thời gian tới, Thực hiện Nghị Quyết 57, Viện định hướng ưu tiên các gói giải pháp có thể triển khai theo chuỗi giá trị, thay vì những nhiệm vụ công nghệ đơn lẻ. Cách tiếp cận phù hợp là mỗi sản phẩm chủ lực gắn với một vùng nguyên liệu, một quy trình kỹ thuật, một đầu mối tổ chức sản xuất và một phương án thị trường rõ ràng. Trên nền tảng đó, Viện sẽ chú trọng các quy trình canh tác thích ứng với điều kiện vùng cao; giải pháp sinh học và tuần hoàn để tận dụng phụ phẩm, cải tạo đất và giảm chi phí đầu vào; thiết bị sơ chế, sấy, bảo quản quy mô nhỏ hoặc mô-đun dùng chung; công nghệ chế biến tạo sản phẩm có giá trị cao hơn; cùng với kiểm nghiệm chất lượng, truy xuất nguồn gốc và hoàn thiện tiêu chuẩn sản phẩm.
Về mô hình triển khai, chúng tôi cho rằng cần xây dựng các điểm trình diễn ngay tại vùng sản xuất, lấy hợp tác xã hoặc doanh nghiệp địa phương làm hạt nhân. Mô hình phải có quy mô đủ để chứng minh hiệu quả kinh tế nhưng vẫn phù hợp với khả năng tiếp nhận của địa phương. Sau một chu kỳ sản xuất, kết quả cần được lượng hóa bằng các chỉ số cụ thể như năng suất, chất lượng, chi phí, tỷ lệ hao hụt, giá bán và thu nhập của người dân. Những mô hình đạt yêu cầu sẽ được chuẩn hóa thành bộ quy trình, tài liệu đào tạo, định mức đầu tư và cơ chế vận hành để có thể chuyển giao sang địa bàn khác.
Để làm được điều đó, sự phối hợp cần được tổ chức theo nguyên tắc rõ vai trò và cùng chịu trách nhiệm về kết quả. Cơ quan quản lý lựa chọn địa bàn, lồng ghép nguồn lực, hỗ trợ hạ tầng và tháo gỡ thủ tục. Viện nghiên cứu khảo sát, hoàn thiện công nghệ, đào tạo và giám sát chất lượng. Doanh nghiệp đưa ra yêu cầu thị trường, tham gia đầu tư và cam kết thu mua hoặc tổ chức tiêu thụ. Hợp tác xã tập hợp hộ dân, quản lý vùng nguyên liệu, thiết bị dùng chung và kỷ luật sản xuất. Người dân là chủ thể trực tiếp, tham gia từ khâu lựa chọn giải pháp, thử nghiệm đến đánh giá hiệu quả, chứ không chỉ là đối tượng thụ hưởng.
Theo tôi, yếu tố quyết định để nhân rộng không phải là sao chép nguyên trạng một mô hình, mà là chuẩn hóa phần cốt lõi và điều chỉnh phần vận hành theo từng địa phương. Khi mô hình chứng minh được ba giá trị - hiệu quả kinh tế, khả năng tự vận hành và đầu ra ổn định - thì việc huy động nguồn lực xã hội và mở rộng quy mô sẽ thuận lợi hơn. Mục tiêu cuối cùng của khoa học và công nghệ không chỉ là tạo ra một quy trình mới, mà là giúp người dân nâng thu nhập, giúp doanh nghiệp có vùng nguyên liệu bền vững và giúp địa phương hình thành sản phẩm đặc trưng có sức cạnh tranh lâu dài.
Trân trọng cảm ơn ông!
