Khoa học công nghệ tạo lực đẩy mới cho nông nghiệp

Từ giống mới, công nghệ sinh học đến truy xuất nguồn gốc và dữ liệu số, khoa học - công nghệ đang được ngành Nông nghiệp định hướng chuyển mạnh từ nghiên cứu sang ứng dụng, thương mại hóa, tạo giá trị thực cho sản xuất.

Từ nghiên cứu đến sản phẩm ứng dụng

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT), năm 2026 là năm bản lề triển khai đồng bộ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; trọng tâm là ưu tiên các nhiệm vụ có khả năng ứng dụng, tạo sản phẩm và giá trị thực cho ngành.

Theo Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Văn Long, năm 2026, Bộ NN&MT triển khai 414 nhiệm vụ khoa học và công nghệ, gồm 151 nhiệm vụ mở mới và 263 nhiệm vụ chuyển tiếp. Đến ngày 30/8, đã tổ chức nghiệm thu 157 nhiệm vụ; trong các tháng 9 và 11/2026, tiếp tục kiểm tra định kỳ đối với 404 nhiệm vụ đang thực hiện.

Sản phẩm sầu riêng Việt Nam chính thức áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc toàn chuỗi từ ngày 1/7/2026 thông qua Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản. Ảnh: Tùng Đinh

Sản phẩm sầu riêng Việt Nam chính thức áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc toàn chuỗi từ ngày 1/7/2026 thông qua Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản. Ảnh: Tùng Đinh

Kết quả nghiên cứu từng bước được chuyển thành sản phẩm và quy trình phục vụ sản xuất. Trong lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật, khoảng 50 giống cây trồng mới và 64 quy trình kỹ thuật cấp cơ sở đã được công nhận, bảo hộ. Một số công nghệ mới như chỉnh sửa gen CRISPR/Cas9, AIoT và cơ giới hóa canh tác được nghiên cứu, thử nghiệm.

Đáng chú ý, hoạt động chuyển giao, thương mại hóa bước đầu ghi nhận kết quả với doanh thu trên 7,2 tỷ đồng từ cung ứng 400 tấn giống lúa và 4.000 cây ăn quả; 24 hồ sơ bảo hộ giống cây trồng đã được nộp.

Trong lâm nghiệp, việc thí điểm cấp mã số vùng trồng rừng nguyên liệu được triển khai trên 25.503 ha tại 96 xã, với 20.202 mã được cấp. Khoảng 677 ha mô hình lâm nghiệp được triển khai hoặc tiếp tục chăm sóc, theo dõi.

Ở quy mô toàn ngành, Bộ đã công nhận, đưa vào sản xuất 225 giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản, lâm nghiệp và 150 tiến bộ kỹ thuật; được cấp 158 bằng độc quyền sáng chế, sở hữu trí tuệ, giải pháp hữu ích, quy trình công nghệ, hướng dẫn kỹ thuật. Hơn 2.000 mô hình trình diễn được xây dựng, góp phần tăng hiệu quả kinh tế sản xuất nông nghiệp 10 - 30%.

Chọn đúng công nghệ chiến lược

Theo ông Nguyễn Văn Long, trong thực hiện nhiệm vụ công nghệ chiến lược, Bộ tập trung vào 3 nhóm gồm giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản thế hệ mới; vắc xin thú y thế hệ mới, chế phẩm sinh học và sinh phẩm nông nghiệp; hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản.

Qua rà soát, Bộ xác định 23 sản phẩm cơ bản đáp ứng tiêu chí sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó có 13 sản phẩm thuộc nhóm giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản thế hệ mới, 2 loại vắc xin và 8 chế phẩm sinh học.

40 máy chủ phục vụ truy xuất nguồn gốc

Về hạ tầng và kết nối của Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản, Bộ NN&MT đã bố trí 40 máy chủ phục vụ triển khai thử nghiệm hệ thống; các nền tảng txng.mae.gov.vn, mae.txng.gov.vn và qtrtxng.mae.gov.vn đã được công bố, đánh giá đáp ứng yêu cầu an toàn thông tin; đang phát triển ứng dụng cài đặt trên thiết bị di động.

Tuy nhiên, việc lựa chọn và phát triển công nghệ chiến lược cũng bộc lộ điểm nghẽn. Bộ đã tiếp nhận 55 đề xuất nhiệm vụ phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược, nhưng sau quá trình rà soát, chỉ 10 đề xuất được lựa chọn gửi Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định. Điều này cho thấy chất lượng đề xuất và mức độ làm chủ công nghệ cần tiếp tục được nâng lên.

Tại phiên họp về công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược và tình hình triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW do Bộ trưởng Bộ NN&MT Trịnh Việt Hùng chủ trì đầu tháng 10, lãnh đạo Bộ cho rằng hiệu quả thực hiện khoa học - công nghệ vẫn chưa đạt kỳ vọng, yêu cầu toàn ngành tập trung trí tuệ để hình thành những nhiệm vụ công nghệ chiến lược có khả năng phục vụ trực tiếp sự phát triển của ngành.

Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng nhấn mạnh, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những nhiệm vụ quan trọng, nặng nề. Vì vậy, các nhiệm vụ được giao phải bảo đảm tiến độ, chất lượng, đi đúng và trúng vấn đề, hướng tới những đột phá chiến lược.

Người đứng đầu Bộ NN&MT đồng thời kêu gọi cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong toàn ngành tham gia đề xuất sáng kiến, ý tưởng khoa học - công nghệ; nguồn ý tưởng không chỉ từ các cơ quan chuyên môn mà còn có thể đến từ gia đình, người thân, học sinh, sinh viên trong và ngoài nước.

Tinh thần được Bộ trưởng nêu rõ là tìm kiếm “giải pháp thực, sản phẩm thực, có giá trị thực”, qua đó tạo đóng góp thiết thực cho ngành và đất nước.

Truy xuất nguồn gốc: đưa công nghệ vào chuỗi nông sản

Một trong những hướng ứng dụng công nghệ rõ nét nhất hiện nay là xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản. Bộ NN&MT chủ động xây dựng, triển khai và đưa vào vận hành Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản theo nhiệm vụ được Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ giao.

Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản được Bộ công bố ngày 30/6 và vận hành thử nghiệm từ 1/7/2026. Đến ngày 20/9, có 10 doanh nghiệp cung cấp giải pháp công nghệ kết nối với hệ thống; 9 doanh nghiệp khác đề nghị kết nối.

Lũy kế dữ liệu do các đơn vị cung cấp giải pháp và địa phương cập nhật đạt 820.723 sản phẩm của 3.030 nông hộ và 208 doanh nghiệp tại 28/34 tỉnh, thành phố. Trong đó, 158.796 sản phẩm đã thực hiện truy xuất nguồn gốc.

Tôn vinh 42 nhà khoa học của nhà nông, trao 24 giải nông dân sáng tạo

42 cá nhân có công trình nghiên cứu, sáng kiến kỹ thuật làm tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp được tôn vinh Nhà khoa học của nhà nông sáng ngày 2/10. Đây là lần thứ 7 chương trình tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” và lần thứ 11 Cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật Nhà nông” được tổ chức, với sự phối hợp chỉ đạo của Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam.

Hệ thống cũng đã kết nối hoặc triển khai kết nối với một số doanh nghiệp và địa phương, trong đó có Thaibinh Seed, Lộc Trời, Masan, Thiên Vương cùng Hà Nội, Hưng Yên, Thái Nguyên, Quảng Ninh và Đắk Lắk.

Theo ông Nguyễn Văn Long, việc triển khai truy xuất nguồn gốc hiện còn nhiều điểm nghẽn. Một số địa phương chưa tổ chức triển khai thực tế dù đã có kế hoạch; cơ sở dữ liệu chuyên ngành chưa đầy đủ; nhân lực còn chủ yếu kiêm nhiệm. Không ít doanh nghiệp, người dân còn băn khoăn về chi phí, thời gian nhập liệu, bảo mật thông tin và lợi ích kinh tế trực tiếp từ truy xuất...

Vì vậy, thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục hoàn thiện hệ thống, chuẩn hóa dữ liệu, quy trình kết nối, kiểm thử, đối soát và quản trị vận hành; đồng thời phối hợp các cục chuyên ngành xây dựng quy trình truy xuất theo từng nhóm sản phẩm, hướng dẫn địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã kết nối và chia sẻ dữ liệu.

Cùng với đó là hoàn thiện cơ chế, chính sách để khoa học - công nghệ đi nhanh hơn vào sản xuất. Bộ dự kiến tiếp tục xây dựng quy định về truy xuất nguồn gốc nông sản, nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, đồng thời đẩy mạnh chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Từ nghiên cứu giống, công nghệ sinh học đến dữ liệu và truy xuất nguồn gốc, hướng đi đang được đặt ra là chuyển trọng tâm từ “có đề tài” sang “có sản phẩm”, từ kết quả nghiên cứu sang khả năng ứng dụng và tạo giá trị. Đây cũng là nền tảng để khoa học - công nghệ trở thành một động lực trực tiếp nâng chất lượng, sức cạnh tranh và khả năng phát triển bền vững của nông nghiệp.

Khánh Linh

Nguồn Thời báo Tài chính: https://thoibaotaichinhvietnam.vn/khoa-hoc-cong-nghe-tao-luc-day-moi-cho-nong-nghiep-204870-204870.html