Khoa học đại học phải tạo giá trị kinh tế
Trong bối cảnh cạnh tranh tri thức toàn cầu ngày càng gay gắt, công bố quốc tế vẫn là thước đo quan trọng phản ánh năng lực khoa học của các quốc gia. Những năm gần đây, số lượng bài báo quốc tế của Việt Nam tăng nhanh, cho thấy sự hội nhập mạnh mẽ của hệ thống nghiên cứu và giáo dục đại học. Tuy nhiên, theo Quyền Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn, khoa học trong đại học không thể chỉ dừng lại ở các công bố học thuật 'đếm bài báo khoa học', mà cần chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm và giải pháp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Nghiên cứu khoa học tại phòng Lab Y sinh (Đại học Bách khoa Hà Nội)
Công bố quốc tế – thước đo quan trọng của sức mạnh khoa học
Trong hệ sinh thái tri thức toàn cầu, công bố quốc tế được xem là chuẩn mực đánh giá chất lượng học thuật và mức độ hội nhập của khoa học mỗi quốc gia. Mỗi công trình nghiên cứu xuất hiện trên các tạp chí khoa học quốc tế uy tín không chỉ khẳng định năng lực của nhà khoa học mà còn góp phần nâng cao vị thế khoa học của quốc gia trên bản đồ tri thức thế giới.
Đối với Việt Nam, yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả công bố quốc tế ngày càng trở nên cấp thiết trong tiến trình phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây cũng là nội dung gắn liền với định hướng lớn được nêu trong Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Thực tế cho thấy, trong khoảng một thập niên qua, bức tranh công bố quốc tế của Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực. Giai đoạn 2015-2025 ghi nhận tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 17,7% mỗi năm. Nếu như năm 2021 cả nước có 13.609 bài báo quốc tế thì đến năm 2025 con số này đạt 15.006 bài. Sự gia tăng này phản ánh nỗ lực của các viện nghiên cứu, trường đại học trong việc thúc đẩy hội nhập học thuật và nâng cao năng lực nghiên cứu.
Một số cơ sở nghiên cứu lớn giữ vai trò dẫn dắt trong hoạt động công bố quốc tế. Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tiếp tục là đơn vị có số lượng công bố nhiều nhất. Tiếp theo là các đại học lớn như Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Tôn Đức Thắng hay Đại học Quốc gia Hà Nội. Nhóm các đơn vị dẫn đầu chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng số công bố của cả nước, cho thấy sự tập trung nguồn lực nghiên cứu vào một số trung tâm mạnh.
Riêng tại Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2024 số lượng công bố quốc tế đạt hơn 2.000 bài, cao nhất từ trước đến nay. Khoảng 70% số bài được đăng trên các tạp chí thuộc nhóm Q1 và Q2 - những tạp chí có uy tín cao trong hệ thống học thuật quốc tế. Kết quả này có được nhờ nhiều chính sách hỗ trợ nhà khoa học, đặc biệt là các nhóm nghiên cứu mạnh và các nhà khoa học trẻ.
Tuy nhiên, phía sau những con số tăng trưởng ấn tượng vẫn tồn tại không ít thách thức. Khoảng 14,79% số bài báo chưa được trích dẫn, cho thấy mức độ lan tỏa học thuật còn hạn chế. Nhiều công bố tập trung ở các tạp chí có hệ số ảnh hưởng thấp, phổ biến trong khoảng từ 0,5 đến 1, khiến tác động khoa học chưa thực sự nổi bật.
Bên cạnh đó, sự chênh lệch giữa các đơn vị nghiên cứu vẫn khá lớn. Nhóm dẫn đầu tạo ra phần lớn số lượng công bố, trong khi nhiều cơ sở khác còn gặp khó khăn về nguồn lực, nhân lực và hạ tầng nghiên cứu.
Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, tỷ trọng công bố quốc tế vẫn còn khiêm tốn so với các ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ. Đặc thù của lĩnh vực này là phương pháp nghiên cứu mang tính định tính cao, gắn chặt với bối cảnh quốc gia và chịu ảnh hưởng của thị trường tạp chí quốc tế phân mảnh. Việc chuẩn hóa bài viết theo các tiêu chuẩn học thuật quốc tế cũng đặt ra nhiều thách thức nếu thiếu sự hỗ trợ về kỹ năng và hạ tầng nghiên cứu.

Nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Từ “đếm bài báo” đến tạo giá trị cho nền kinh tế
Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào số lượng công bố quốc tế thì vẫn chưa phản ánh đầy đủ năng lực khoa học - công nghệ của một quốc gia. Theo Quyền Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn, khoa học công nghệ phải đóng góp trực tiếp cho phát triển kinh tế - xã hội.
Phát biểu tại buổi làm việc với các cơ sở giáo dục đại học trực thuộc Bộ về tình hình triển khai Nghị quyết 57, ông Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh các trường đại học cần gắn chặt hoạt động nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn. Đại học không thể chỉ dừng lại ở việc “đếm bài báo khoa học”, mà phải tạo ra giá trị cho nền kinh tế thông qua các sản phẩm nghiên cứu có khả năng chuyển giao và ứng dụng.
Theo Quyền Bộ trưởng, các cơ sở giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết 57. Đây là nơi vừa đào tạo nguồn nhân lực khoa học - công nghệ, vừa triển khai nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Do đó, năng lực khoa học công nghệ của quốc gia phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả hoạt động của hệ thống đại học.
Ông cho rằng không thể chỉ so sánh sự tăng trưởng số lượng công bố qua từng năm để đánh giá thành tựu khoa học. Điều quan trọng hơn là những đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu phải giải quyết được các vấn đề cấp bách của đất nước; các sản phẩm khoa học phải có khả năng ứng dụng vào sản xuất và đời sống; và nguồn nhân lực chất lượng cao do các trường đại học đào tạo phải trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Điều này cũng đặt ra yêu cầu thay đổi cách tiếp cận trong đánh giá hoạt động khoa học. Thay vì chỉ dựa vào số lượng bài báo, cần xây dựng cơ chế đánh giá đa chiều, chú trọng đến tác động xã hội và giá trị kinh tế của nghiên cứu.
Một yếu tố quan trọng khác được Quyền Bộ trưởng nhấn mạnh là tinh thần hợp tác trong nghiên cứu khoa học. Theo đó, các trường đại học cần rà soát và thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa các hoạt động hợp tác, không chỉ trong nội bộ từng trường mà còn giữa các cơ sở giáo dục đại học với nhau.
Bên cạnh đó, hợp tác cần được mở rộng ra ngoài hệ thống giáo dục, gắn với doanh nghiệp, địa phương và các đối tác liên quan. Những dự án mang tính liên ngành, liên trường và gắn kết với thực tiễn địa phương sẽ giúp mở rộng nguồn lực, đồng thời nâng cao hiệu quả nghiên cứu và đào tạo.
Thực tế cho thấy, hợp tác quốc tế cũng là động lực quan trọng thúc đẩy công bố khoa học của Việt Nam. Hiện nay, tỷ lệ bài báo có yếu tố hợp tác quốc tế chiếm từ 77% đến 90%. Các đối tác lớn gồm Hàn Quốc, Mỹ, Trung Quốc, Úc và Nhật Bản. Điều này phản ánh mức độ hội nhập ngày càng sâu của khoa học Việt Nam, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực nội sinh để chủ động hơn trong việc đề xuất và dẫn dắt các đề tài nghiên cứu.
Trong bối cảnh cạnh tranh tri thức toàn cầu ngày càng khốc liệt, việc nâng cao năng lực công bố quốc tế vẫn là xu hướng tất yếu. Tuy nhiên, mục tiêu cuối cùng của khoa học không chỉ là tạo ra các công trình học thuật, mà phải đóng góp thiết thực cho sự phát triển của đất nước.
Vì vậy, trong giai đoạn tới, cùng với việc tiếp tục nâng cao chất lượng công bố quốc tế, hệ thống đại học Việt Nam cần chú trọng hơn đến việc chuyển hóa tri thức thành sản phẩm, công nghệ và giải pháp phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Chỉ khi đó, khoa học mới thực sự trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng bền vững, đồng thời khẳng định vị thế của Việt Nam trong hệ sinh thái tri thức toàn cầu.
Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/khoa-hoc-dai-hoc-phai-tao-gia-tri-kinh-te-737770.html












