Khoảng cách từ giảng đường đến thị trường

Khoảng cách giữa giảng đường và thị trường, sự thiếu hụt trong đào tạo những năng lực mới về công nghệ, quản trị, bản quyền và thương mại hóa đang trở thành những vấn đề cần tháo gỡ ở TP Hồ Chí Minh.

Các nghệ sỹ Thành phố Hồ Chí Minh tham gia cuộc thi “Tài năng diễn viên sân khấu cải lương Trần Hữu Trang.” (Ảnh: Thu Hương/TTXVN)

Các nghệ sỹ Thành phố Hồ Chí Minh tham gia cuộc thi “Tài năng diễn viên sân khấu cải lương Trần Hữu Trang.” (Ảnh: Thu Hương/TTXVN)

Trong dòng chảy mạnh mẽ của chuyển đổi số và kinh tế sáng tạo, công nghiệp văn hóa đang mở ra không gian phát triển mới, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về nguồn nhân lực.

Khoảng cách giữa giảng đường và thị trường, sự thiếu hụt trong đào tạo những năng lực mới về công nghệ, quản trị, bản quyền và thương mại hóa đang trở thành những vấn đề cần tháo gỡ.

Phóng viên TTXVN thực hiện chùm bài viết chủ đề "Đào tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp văn hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh" nhằm nhận diện những điểm nghẽn, tìm kiếm mô hình đào tạo phù hợp, chuẩn bị nguồn nhân lực để Thành phố Hồ Chí Minh chuyển hóa tài nguyên văn hóa thành nguồn lực phát triển theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Khi công nghiệp văn hóa đang mở rộng dưới tác động của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những mô hình kinh doanh mới, đào tạo nguồn nhân lực vẫn bộc lộ khoảng cách đáng kể với thực tế. Nhiều lĩnh vực không thiếu cơ sở đào tạo, sinh viên tốt nghiệp mỗi năm, nhưng thị trường vẫn cần những người có khả năng thích ứng nhanh với quy trình sản xuất chuyên nghiệp. Khoảng cách từ giảng đường đến thị trường đặt ra câu hỏi về chuẩn đầu ra và khả năng đáp ứng những vị trí nghề nghiệp đang thay đổi.

Có chuyên môn vẫn chưa đủ

Từ thực tế đào tạo điện ảnh, bà Lê Phương Mai, Phó Trưởng khoa Điện ảnh- Truyền hình, Trường Đại học Sân khấu-Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh nhìn nhận vẫn tồn tại một khoảng cách nhất định từ lúc sinh viên tốt nghiệp đến khi có thể tham gia một đoàn phim hay làm việc tại công ty sản xuất. Để rút ngắn khoảng cách, nhà trường tăng cường hợp tác với các công ty sản xuất, đài truyền hình, tạo điều kiện để sinh viên thực tập và tiếp xúc với môi trường làm nghề ngay trong quá trình học.

Khoảng cách ấy cũng là trải nghiệm của Hoàng Thúy Diệu, đạo diễn trẻ của phim “Một thìa Đông tan” vốn được thực hiện để làm báo cáo tốt nghiệp và từng định cho “ngủ đông” sau khi hoàn thành.

Khi rời nhà trường và bước vào thị trường nghề nghiệp, nữ đạo diễn nhận ra một tác phẩm được thực hiện trong điều kiện học tập khác khá nhiều so với yêu cầu của thị trường. Nếu sinh viên có tương đối nhiều thời gian chuẩn bị cho phim tốt nghiệp thì các dự án ngoài thị trường thường chịu áp lực lớn hơn về tiến độ, nguồn lực và hiệu quả công việc. Sự thay đổi đó khiến những người mới ra trường không tránh khỏi bỡ ngỡ.

Điều Hoàng Thúy Diệu nhận thấy mình còn thiếu không chỉ là kỹ năng làm phim. Để kể được một câu chuyện có chiều sâu, người trẻ còn cần vốn sống, sự trưởng thành và hiểu biết từ nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác. Vì vậy, sau khi tốt nghiệp, quá trình học của một đạo diễn thực chất vẫn tiếp tục thông qua những trải nghiệm nghề nghiệp và đời sống.

Trải nghiệm của Hoàng Thúy Diệu cho thấy vấn đề không hẳn nằm ở việc người trẻ “chưa biết nghề,” mà ở chỗ những kiến thức và kỹ năng đã học phải được đặt vào một môi trường sản xuất với áp lực, thời gian và yêu cầu khác trước.

Ông Đinh Ngọc Tuấn, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sân khấu- Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng khoảng cách giữa trường học và thực tế là điều khó tránh khỏi bởi trên phim trường có nhiều yếu tố mà môi trường đào tạo không thể tái tạo đầy đủ. Từ thiết kế mỹ thuật, ánh sáng, thiết bị đến cách vận hành của từng êkíp đều tạo ra những tình huống khác với bài tập trong trường. Tuy nhiên, theo ông, nếu người học được trang bị nền tảng chuyên môn vững, quá trình thích nghi với thực tế sẽ nhanh hơn. Vì thế, vấn đề không phải phủ nhận giá trị của đào tạo hàn lâm mà là làm thế nào để nền tảng ấy được nối với thực hành nghề nghiệp.

Khoảng cách đào tạo-thị trường còn thể hiện ở cơ cấu nhân lực. Một ngành công nghiệp điện ảnh không thể chỉ có đạo diễn và diễn viên. Đằng sau một bộ phim còn có biên kịch, nhà sản xuất, quay phim, thiết kế, hậu kỳ, kỹ thuật, phát hành, truyền thông... Tương tự, một vở diễn, triển lãm hay sản phẩm di sản cũng phải đi qua nhiều khâu trước khi đến được với công chúng.

Tiến sỹ Vũ Văn Tuyến, Trường Đại học Hồng Đức nhận định chuẩn đầu ra trong đào tạo hiện còn thiên về năng lực chuyên môn, trong khi những năng lực sáng tạo, quản trị, thích ứng với môi trường số và thị trường ngày càng quan trọng. Ông đề xuất sáu nhóm năng lực tham chiếu gồm: văn hóa-nghệ thuật; công nghệ và dữ liệu; quản trị sáng tạo; thị trường và truyền thông; sở hữu trí tuệ và đạo đức nghề nghiệp; hội nhập và phát triển bền vững.

Điểm đáng chú ý ở cách tiếp cận này là chuyên môn nghề nghiệp vẫn là nền tảng, nhưng không còn tồn tại biệt lập. Một người làm sáng tạo phải hiểu sản phẩm của mình sẽ được sản xuất, truyền thông và tiếp nhận như thế nào; người làm quản lý cần hiểu đặc trưng của sản phẩm văn hóa; người làm công nghệ trong lĩnh vực sáng tạo cũng cần nhận thức về nội dung, bản quyền và giá trị văn hóa.

Những vị trí còn thiếu trong chuỗi sáng tạo

Trích đoạn "Chuyện tình Khau Vai" được nhiều khán giả hưởng ứng. (Ảnh: Thu Hương/TTXVN)

Trích đoạn "Chuyện tình Khau Vai" được nhiều khán giả hưởng ứng. (Ảnh: Thu Hương/TTXVN)

Nhìn rộng hơn, khoảng cách giữa đào tạo và thị trường thể hiện rõ ở những vị trí kết nối tác phẩm với quá trình sản xuất và kinh doanh. Ông Đinh Ngọc Tuấn cho rằng công nghiệp điện ảnh cần được nhìn trên ít nhất ba phương diện: kỹ thuật - công nghệ, nghệ thuật và kinh doanh. Thiếu một trong ba “chân” trên, chuỗi sản xuất khó vận hành hoàn chỉnh.

Điều này cho thấy nhu cầu nhân lực của các ngành sáng tạo đang vượt ra ngoài những nghề quen thuộc trực tiếp tạo nên tác phẩm. Cùng với nghệ sĩ, diễn viên, đạo diễn hay nhà thiết kế, thị trường còn cần những người có khả năng tổ chức sản xuất, quản lý dự án, quản trị bản quyền, nghiên cứu thị trường và đưa sản phẩm đến người sử dụng.

Trong khi đó, các ngành đào tạo liên quan đến văn hóa, nghệ thuật, truyền thông, thiết kế, du lịch, kinh doanh hay công nghệ phần lớn vẫn được tổ chức theo từng lĩnh vực chuyên môn. Người học có thể được trang bị tốt kiến thức của ngành mình nhưng chưa có nhiều cơ hội hình dung đầy đủ hành trình của một sản phẩm từ ý tưởng, sáng tạo đến sản xuất và thị trường.

Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lâm Nhân, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng mối quan hệ giữa giáo dục, văn hóa nghệ thuật, công nghệ và thị trường đang được cấu trúc lại. Người học không chỉ cần kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp mà còn phải biết sử dụng công nghệ, làm việc với dữ liệu, hiểu thị trường, quản trị dự án, phân phối nội dung trên nền tảng số, nhận thức về sở hữu trí tuệ và có khả năng hợp tác với các lĩnh vực khác.

Ở góc độ nhà trường, sự thay đổi ấy đặt ra áp lực cập nhật chương trình đào tạo. Bà Lê Phương Mai, Phó Trưởng khoa Điện ảnh-Truyền hình, Trường Đại học Sân khấu-Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh cho biết nhà trường đã đưa thêm những nội dung mới như trí tuệ nhân tạo (AI) trong điện ảnh, mời chuyên gia chia sẻ về âm thanh, công nghệ và các lĩnh vực mới. Tuy nhiên, theo bà, công nghệ trước hết vẫn là công cụ, nền tảng quan trọng của điện ảnh vẫn là khả năng kể chuyện và cảm xúc mà tác phẩm tạo ra cho người xem.

Từ đó cũng cho thấy việc thu hẹp khoảng cách đào tạo-thị trường không đơn giản là chạy theo từng công nghệ mới. Bởi công nghệ có thể thay đổi nhanh hơn chu kỳ của một chương trình đại học. Điều cần chuẩn bị cho người học là nền tảng nghề nghiệp đủ vững và khả năng thích ứng với những thay đổi ấy và đưa môi trường làm nghề đến gần hơn với giảng đường./.

Mời độc giả theo dõi chùm bài tại đây:

Bài 2: Gỡ “nút thắt” trong đào tạo sáng tạo

(TTXVN/Vietnam+)

Nguồn VietnamPlus: https://www.vietnamplus.vn/khoang-cach-tu-giang-duong-den-thi-truong-post1140245.vnp