Khơi dậy tình yêu lịch sử từ không gian bảo tàng
Nhân kỷ niệm 72 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, nhiều trường học trên địa bàn Hà Nội đã tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động học tập trải nghiệm tại bảo tàng, di tích lịch sử.
Từ thực tế đó, Chương trình Thời sự của Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội thực hiện tọa đàm với chủ đề “Bảo tàng: Không gian học tập trực quan về lịch sử”, phát sóng vào lúc 19h00 ngày 7-5, nhằm nhìn nhận vai trò của bảo tàng trong giáo dục truyền thống, bồi đắp lòng yêu nước và hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ.

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là địa chỉ giáo dục lịch sử được nhiều học sinh đến trải nghiệm. Ảnh: Hoàng Quyên
Tọa đàm có sự tham gia của Thạc sĩ Phạm Thị Mai Thủy, Trưởng phòng Giáo dục - Truyền thông, Bảo tàng Lịch sử quốc gia và thầy giáo Phạm Văn Hoan, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Bình Minh, Hà Nội. Các khách mời cùng trao đổi về hiệu quả của việc đưa học sinh đến với bảo tàng thông qua các hoạt động trải nghiệm thực tế; cách kể chuyện lịch sử bằng hiện vật, không gian trưng bày và công nghệ trực quan để khơi gợi hứng thú học tập cho học sinh.

Các khách mời tham dự Chương trình. Ảnh: Phan Anh
Chương trình cũng đề cập thực trạng hiện nay khi nhiều bảo tàng tại Hà Nội mỗi năm đón hàng trăm nghìn lượt khách, song, tỷ lệ học sinh, sinh viên tham gia vẫn chưa đạt kỳ vọng. Trong khi đó, không ít học sinh vẫn cho rằng lịch sử là môn học khó nhớ, thiếu hấp dẫn. Từ góc nhìn của nhà trường và đơn vị bảo tàng, tọa đàm phân tích nguyên nhân của thực trạng này, đồng thời, đề xuất những giải pháp để lịch sử trở nên gần gũi hơn với thế hệ trẻ thông qua các phương pháp giáo dục trải nghiệm, ứng dụng công nghệ số và tăng cường liên kết giữa nhà trường với các thiết chế văn hóa.
Thông qua những câu chuyện thực tế và góc nhìn đa chiều từ các khách mời, chương trình góp phần khẳng định bảo tàng không chỉ là nơi lưu giữ ký ức dân tộc, mà còn là “giảng đường đặc biệt”, giúp lịch sử trở nên sống động, giàu cảm xúc và có sức lan tỏa mạnh mẽ đối với thế hệ hôm nay.
Bảo tàng - “trường học đặc biệt” giáo dục lịch sử, truyền thống
Bảo tàng ngày nay không còn chỉ là nơi lưu giữ những di sản quý giá của dân tộc, mà đã trở thành một “trường học đặc biệt”, nơi giáo dục lịch sử, truyền thống, lòng yêu nước; đồng thời góp phần bồi đắp nhân cách cho thế hệ trẻ.

Thạc sĩ Phạm Thị Mai Thủy, Trưởng phòng Giáo dục - Truyền thông, Bảo tàng Lịch sử quốc gia. Ảnh: Phan Anh
Theo Thạc sĩ Phạm Thị Mai Thủy, Trưởng phòng Giáo dục - Truyền thông, Bảo tàng Lịch sử quốc gia, trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển, vai trò giáo dục của bảo tàng càng được coi trọng. Minh chứng rõ ràng là năm 2024, nhiệm vụ giáo dục của bảo tàng đã chính thức được đưa vào Luật Di sản văn hóa (sửa đổi).
Nói về vai trò của bảo tàng trong việc truyền tải lịch sử đến với thế hệ trẻ hiện nay, Thạc sĩ Phạm Thị Mai Thủy cho rằng, trước hết, bảo tàng là nơi cung cấp những bằng chứng lịch sử xác thực, gồm các hiện vật gốc và chứng cứ vật chất mà sách vở hay lời kể không thể thay thế. Điều này giúp việc học lịch sử trở nên gần gũi, cụ thể và đáng tin cậy hơn.
Thứ hai, bảo tàng giúp việc ghi nhớ lịch sử trở nên dễ dàng hơn so với chỉ học qua lý thuyết.
Thứ ba, bảo tàng là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại. Nhiệm vụ giáo dục của bảo tàng không chỉ giúp học sinh hiểu về quá khứ mà còn góp phần hình thành ý thức trách nhiệm và cách nhìn của các em đối với xã hội hôm nay.
“Việc đưa lịch sử đến gần hơn với thế hệ trẻ hiện nay không chỉ là nhiệm vụ quan trọng mà còn là sứ mệnh của bảo tàng”, bà Phạm Thị Mai Thủy nhấn mạnh.
Đưa lịch sử đến gần học sinh từ những trải nghiệm trực quan
Theo thầy Phạm Văn Hoan, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Bình Minh, Hà Nội, việc học lịch sử trong nhà trường chủ yếu giúp học sinh ghi nhớ và hệ thống kiến thức thông qua sự truyền đạt của thầy cô. Tuy nhiên, khi được tham quan tại các bảo tàng, di tích lịch sử, học sinh có cơ hội tiếp cận kiến thức bằng trải nghiệm trực quan sinh động và cảm xúc thực tế.
Đặc biệt, ở cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông, khi học sinh đã hình thành tư duy phản biện, các hoạt động trải nghiệm càng phát huy hiệu quả rõ nét trong việc kết nối kiến thức với thực tiễn. Qua đó, lịch sử không còn khô cứng trên trang sách mà trở nên gần gũi, dễ hiểu và giàu cảm xúc hơn đối với các em.
Thầy Phạm Văn Hoan cũng cho biết, trong những năm gần đây, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội đã xây dựng nhiều kế hoạch, tạo điều kiện để các trường học tổ chức cho học sinh từ mầm non, tiểu học đến trung học cơ sở và trung học phổ thông tham quan, học tập tại các bảo tàng và di tích trên địa bàn Thủ đô.
Theo các chuyên gia giáo dục và những người làm công tác bảo tàng, để học sinh không chỉ “học” mà còn “hiểu”, “cảm” và ghi nhớ lịch sử một cách sâu sắc, cần có sự kết hợp của nhiều yếu tố.
Thầy Phạm Văn Hoan, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Bình Minh cho rằng, trước hết học sinh cần được trang bị nền tảng kiến thức chuẩn thông qua sách giáo khoa và bài giảng trên lớp. Tuy nhiên, chỉ kiến thức thôi là chưa đủ. Điều quan trọng hơn là phải tạo cơ hội cho các em được trải nghiệm thực tế tại các bảo tàng, di tích lịch sử và được tiếp cận lịch sử bằng những câu chuyện hấp dẫn, gần gũi với tâm lý lứa tuổi. Phương pháp giảng dạy của giáo viên giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc khơi gợi hứng thú với môn Lịch sử.
“Làm thế nào để kể chuyện theo cách học sinh thích nghe, để các em yêu lịch sử, điều đó phụ thuộc rất nhiều vào các thầy cô giáo”, thầy Phạm Văn Hoan chia sẻ.
Ngoài ra, thầy Phạm Văn Hoan nhấn mạnh, nhà trường cần thay đổi cách nhìn nhận, không coi việc tham quan bảo tàng, di tích chỉ là hoạt động ngoại khóa phụ trợ mà phải xem đây là một phần của chương trình học. “Não bộ ghi nhớ trải nghiệm gấp nhiều lần so với chữ viết, bởi vậy những trải nghiệm trực tiếp sẽ giúp học sinh ghi nhớ kiến thức lâu hơn và sâu sắc hơn”, thầy Phạm Văn Hoan dẫn chứng.
Đồng quan điểm, bà Phạm Thị Mai Thủy, Trưởng phòng Giáo dục - Truyền thông, Bảo tàng Lịch sử quốc gia cho rằng, việc tăng cường cho học sinh tham quan bảo tàng, di tích và tham gia các hoạt động trải nghiệm là cách để các em thực sự “đắm mình” trong không gian lịch sử. Khi đó, lịch sử sẽ không còn là những bài học xa xôi mà trở nên sống động, gần gũi và giàu cảm xúc hơn.
Theo bà Phạm Thị Mai Thủy, để lịch sử trở thành một phần trong nhận thức của thế hệ trẻ, việc chuyển tải kiến thức thông qua những câu chuyện cụ thể về con người là vô cùng quan trọng.
Lấy ví dụ về Chiến thắng Điện Biên Phủ, bà Phạm Thị Mai Thủy cho rằng, nếu chỉ nhắc đến mốc năm 1954 hay những con số chiến thắng thì rất khó tạo dấu ấn với học sinh. Nhưng khi gắn sự kiện ấy với những câu chuyện về con người cụ thể, về sự hy sinh và lòng quả cảm của các chiến sĩ, học sinh sẽ không chỉ nhớ sự kiện mà còn hiểu được những con người đã làm nên lịch sử. Bên cạnh đó, lịch sử cũng cần được kết nối với đời sống hôm nay để học sinh nhận ra giá trị của quá khứ đối với hiện tại.
“Khi lịch sử được kể bằng câu chuyện, được cảm nhận qua trải nghiệm và được gắn với cuộc sống đương đại, lịch sử sẽ không còn là những bài học khô cứng mà trở thành một phần trong nhận thức, tình cảm và trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay”, bà Phạm Thị Mai Thủy nhấn mạnh.
Giáo dục trực quan tại bảo tàng giúp lịch sử trở nên gần gũi

Thạc sĩ Phạm Thị Mai Thủy, Trưởng phòng Giáo dục - Truyền thông, Bảo tàng Lịch sử quốc gia trao đổi tại Chương trình. Ảnh: Phan Anh
Theo thạc sĩ Phạm Thị Mai Thủy, Trưởng phòng Giáo dục - Truyền thông, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, tính trực quan là một thế mạnh rất riêng của bảo tàng, giúp lịch sử trở nên gần gũi, dễ tiếp nhận hơn đối với học sinh, sinh viên và thế hệ trẻ.
Cụ thể, tính trực quan giúp lịch sử dễ hiểu hơn. Khi được tận mắt nhìn thấy hiện vật hay những chứng tích lịch sử, học sinh sẽ dễ dàng hình dung bối cảnh và sự kiện lịch sử hơn so với việc chỉ tưởng tượng qua sách vở.
Chẳng hạn, nhân dịp kỷ niệm 72 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, khi đến bảo tàng, các em được nhìn thấy chiếc xe đạp thồ hay sợi dây mà các chiến sĩ từng dùng để kéo pháo vào trận địa. Những hiện vật ấy giúp lịch sử hiện lên cụ thể và chân thực hơn rất nhiều.
Cùng với đó, giáo dục trực quan cũng giúp học sinh ghi nhớ lâu hơn. Những gì các em được trực tiếp quan sát và trải nghiệm tại bảo tàng thường để lại dấu ấn sâu sắc hơn so với việc chỉ nghe giảng hay ghi chép trên lớp.
Thêm nữa, yếu tố trực quan góp phần tạo nên cảm xúc lịch sử. Một hiện vật hay kỷ vật chiến tranh gắn với câu chuyện về những con người cụ thể, những người đã anh dũng hy sinh để bảo vệ độc lập, tự do của dân tộc, sẽ mang đến cho học sinh những trải nghiệm khó quên. Đây là điều mà những trang sách khó có thể truyền tải trọn vẹn.
Để lịch sử "chạm" đến học sinh

Thầy Phạm Văn Hoan, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Bình Minh, Hà Nội trao đổi tại Chương trình. Ảnh: Phan Anh
Từ thực tế tại nhà trường, thầy Phạm Văn Hoan, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Bình Minh (Hà Nội) cho rằng, nhiều học sinh hiện nay vẫn chưa thực sự hứng thú với môn lịch sử.
Theo thầy Hoan, nguyên nhân trước hết không phải do học sinh chán lịch sử, mà bởi cách tiếp cận môn học chưa thực sự hấp dẫn. Dù phương pháp giảng dạy đã có đổi mới, nhưng ở một số nơi vẫn chưa bắt kịp tâm lý, nhu cầu của người học. Bên cạnh đó, áp lực thi cử, học nhiều môn khiến không ít học sinh có xu hướng học đối phó.
Ngoài ra, học sinh ở nhiều cấp học còn thiếu cơ hội trải nghiệm thực tế; cách truyền đạt kiến thức lịch sử chưa thật sự gần gũi với ngôn ngữ, tư duy của giới trẻ.
Thầy Phạm Văn Hoan nhấn mạnh: "Giáo viên cần linh hoạt làm mới tư liệu bài giảng, đổi mới cách truyền đạt để biến những nội dung tưởng chừng khô khan trở nên sinh động, dễ tiếp cận, qua đó khơi dậy hứng thú học tập cho học sinh”.

Bảo tàng Hồ Chí Minh thu hút giới trẻ đến tham quan, học lịch sử. Ảnh: Hoàng Quyên
Có ý kiến cho rằng học sinh không chán môn lịch sử, mà đang chịu áp lực từ nhiều môn học khác. Nhìn nhận vấn đề này, thầy Phạm Văn Hoan cho biết, nhận định trên là đúng nhưng chưa đủ. Bởi, thực tế nếu bài học đủ hấp dẫn, giàu cảm xúc, học sinh vẫn sẵn sàng dành thời gian, dù lịch học có bận.
“Cốt lõi vẫn là cách dạy và học. Làm thế nào để môn lịch sử "chạm" được tới cảm xúc của học sinh, từ đó khơi dậy sự quan tâm, yêu thích một cách tự nhiên”, thầy Phạm Văn Hoan bày tỏ.
Bảo tàng đổi mới để trở thành không gian hấp dẫn với giới trẻ
Nhìn từ thực tế hoạt động bảo tàng hiện nay, Thạc sĩ Phạm Thị Mai Thủy, Trưởng phòng Giáo dục - Truyền thông (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) cho rằng, có nhiều nguyên nhân khiến học sinh và giới trẻ chưa thường xuyên lựa chọn bảo tàng như một điểm đến trải nghiệm, dù nhu cầu học tập thực tế ngày càng được quan tâm.

Thạc sĩ Phạm Thị Mai Thủy, Trưởng phòng Giáo dục - Truyền thông (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia). Ảnh: Phan Anh
Thạc sĩ Phạm Thị Mai Thủy nhận định, rào cản đầu tiên nằm ở chính trải nghiệm tại bảo tàng. Hiện nay, nhiều bảo tàng vẫn chủ yếu sử dụng hình thức trưng bày tĩnh, ít tương tác. Nội dung lịch sử, văn hóa vốn hấp dẫn nhưng cách kể chuyện đôi khi chưa thực sự gần gũi với giới trẻ, thiếu sự kết nối với đời sống hiện đại nên học sinh khó tìm thấy sự đồng cảm trong đó.
Theo Thạc sĩ Phạm Thị Mai Thủy, nhiều bảo tàng đã có nỗ lực xây dựng các chương trình giáo dục, trải nghiệm dành cho học sinh và thanh thiếu niên. Tuy nhiên, số lượng chương trình đủ sức hấp dẫn, đủ mới để tạo sức hút với giới trẻ vẫn chưa nhiều. Điều này khiến bảo tàng chưa thực sự trở thành không gian khám phá quen thuộc của các em.
Một khó khăn khác đến từ cách thức tổ chức các chuyến tham quan. Nhiều chuyến đi hiện nay vẫn mang tính hình thức. Có thời điểm bảo tàng đón hàng nghìn học sinh trong cùng một khoảng thời gian ngắn bởi lịch trình tham quan còn kết hợp nhiều điểm đến khác nhau. Với số lượng đông và thời gian hạn chế, học sinh chủ yếu chỉ nghe thuyết minh, quan sát hiện vật mà chưa có cơ hội tham gia các hoạt động tương tác hay trải nghiệm chuyên sâu.

Bảo tàng Hồ Chí Minh thu hút giới trẻ đến tham quan, học lịch sử. Ảnh: Hoàng Quyên
Ngoài ra, theo Thạc sĩ Phạm Thị Mai Thủy, câu chuyện truyền thông và thói quen tiếp cận văn hóa cũng là một rào cản đáng chú ý. Dù nhiều bảo tàng đã đổi mới hoạt động truyền thông, nhưng cách tiếp cận, ngôn ngữ truyền tải đôi khi vẫn chưa thực sự chạm tới giới trẻ. Nhiều bạn trẻ chưa hình dung được bảo tàng có gì thú vị, hấp dẫn để lựa chọn như một điểm đến thường xuyên trong đời sống văn hóa.
Từ thực tế đó, Trưởng phòng Giáo dục - Truyền thông (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) nhấn mạnh, vấn đề không nằm ở việc giới trẻ thờ ơ với bảo tàng, mà xuất phát từ nhiều yếu tố cả phía bảo tàng và cách tổ chức hoạt động trải nghiệm. Theo bà, các bảo tàng cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn, từ nội dung trưng bày, phương thức kể chuyện đến hoạt động giáo dục và truyền thông, để tạo sức hút với học sinh, sinh viên và khuyến khích họ quay trở lại nhiều lần.
Lịch sử cần được kể theo cách cảm nhận của giới trẻ

Thạc sĩ Phạm Thị Mai Thủy, Trưởng phòng Giáo dục - Truyền thông (Bảo tàng Lịch sử quốc gia) chia sẻ tại Chương trình. Ảnh: Phan Anh
Từ góc nhìn của người làm công tác giáo dục bảo tàng, Thạc sĩ Phạm Thị Mai Thủy nhận định, trong bối cảnh mạng xã hội mang đến vô số nội dung hấp dẫn, nhanh và gần gũi với giới trẻ, lịch sử nếu vẫn được truyền đạt theo lối cũ sẽ khó tạo được sự kết nối. Những người làm bảo tàng cũng như các thầy, cô giáo hiện nay phần lớn vẫn đang kể lịch sử theo cách của mình, thay vì theo cách mà học sinh muốn tiếp nhận.
“Chúng ta chưa thực sự đặt lịch sử vào những câu chuyện đủ gần với đời sống và cảm xúc của các em. Chính điều đó khiến lịch sử trở nên xa cách, chứ không phải các em không quan tâm đến lịch sử hay bảo tàng”, bà Thủy chia sẻ.
Lịch sử vốn chứa đựng rất nhiều giá trị hấp dẫn, từ những câu chuyện về con người, văn hóa, tinh thần dân tộc đến các bài học về trách nhiệm và khát vọng cống hiến. Điều quan trọng là phải tìm được cách để những giá trị ấy trở nên sống động, dễ cảm nhận hơn với thế hệ trẻ hôm nay.
Bà Thủy cũng cho rằng, nếu nhà trường, giáo viên và các bảo tàng không thay đổi phương thức hoạt động, điều mất đi sẽ không dừng ở kiến thức lịch sử. Nghiêm trọng hơn, đó là sự đứt gãy trong kết nối của thế hệ trẻ với cội nguồn dân tộc. Lịch sử cần trở thành điểm tựa để nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm và khát vọng đóng góp cho xã hội. Muốn làm được điều đó, sự thay đổi không chỉ nằm ở cách học hay cách dạy, mà sâu xa hơn là cách truyền tải lịch sử từ nhà trường tới bảo tàng.
Ở góc độ bảo tàng, Thạc sĩ Phạm Thị Mai Thủy cho rằng, cần xây dựng các không gian học tập trực quan, nơi lịch sử không còn là những con số hay sự kiện khô cứng mà trở thành những trải nghiệm có thể nhìn thấy, cảm nhận và tương tác. Khi lịch sử được kể bằng ngôn ngữ gần gũi hơn với giới trẻ, bảo tàng sẽ không chỉ là nơi lưu giữ hiện vật mà còn là nơi khơi dậy cảm xúc, giúp các em hiểu hơn về quá khứ và tìm thấy sự kết nối với hiện tại.
Để học sinh yêu lịch sử bằng trải nghiệm và công nghệ

Nhà giáo Phạm Văn Hoan, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Bình Minh, Hà Nội trao đổi tại Chương trình. Ảnh: Phan Anh
Theo nhà giáo Phạm Văn Hoan, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Bình Minh, nhận định cho rằng nhiều học sinh chưa hứng thú với lịch sử do cách trưng bày, giới thiệu còn đơn điệu và việc kết nối với chương trình học chưa thực sự hiệu quả là có một phần đúng.
Thầy cho rằng, để lịch sử trở nên gần gũi và hấp dẫn với học sinh, nhà trường không thể chỉ áp dụng một phương pháp duy nhất mà cần dạy học theo từng đối tượng, kết hợp đa dạng hình thức.
Trong đó, trải nghiệm thực tế là yếu tố quan trọng. Học sinh cần được tham quan bảo tàng, di tích lịch sử, đồng thời được học theo dự án, tự tìm hiểu về nhân vật, sự kiện để tăng tính chủ động trong tiếp cận kiến thức.
Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ cũng cần được đẩy mạnh thông qua video, các nền tảng số và công cụ hỗ trợ học tập để giúp học sinh có trải nghiệm trực quan, sinh động hơn với lịch sử.
Thầy Phạm Văn Hoan nhấn mạnh: “Muốn học sinh học thì hãy dùng trải nghiệm; muốn học sinh tự hào thì hãy dùng dạy học dự án và muốn học sinh tò mò thì hãy sử dụng công nghệ”.
Thay đổi cách tiếp cận để kéo học sinh đến gần lịch sử

Thạc sĩ Phạm Thị Mai Thủy, Trưởng phòng Giáo dục - Truyền thông, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Ảnh Phan Anh
Theo Thạc sĩ Phạm Thị Mai Thủy, để thu hút học sinh nhiều hơn trong thời gian tới, các bảo tàng cần đổi mới mạnh mẽ cả về cách trưng bày lẫn hoạt động giáo dục trải nghiệm.
Bà Mai Thủy cho rằng trước hết, bảo tàng cần thay đổi cách kể chuyện theo hướng sinh động hơn, lấy con người và các câu chuyện lịch sử làm trung tâm thay vì chỉ trưng bày hiện vật khô cứng. Các nội dung trưng bày cũng cần được diễn giải rõ ràng, dễ hiểu và sử dụng ngôn ngữ phù hợp với giới trẻ.
Bên cạnh đó, các bảo tàng cần tăng tính tương tác, giảm bớt những phần giới thiệu dài dòng để học sinh không chỉ đến xem mà còn có thể trực tiếp cảm nhận và tham gia trải nghiệm. Việc đổi mới hoạt động giáo dục cũng rất quan trọng, thông qua các hình thức như trò chơi lịch sử, hoạt động nhập vai hay ứng dụng công nghệ nhằm giúp học sinh tham gia chủ động thay vì chỉ nghe thuyết minh.
Theo bà Thủy, các chương trình trải nghiệm cũng cần được thiết kế phù hợp với từng nhóm đối tượng. Nội dung dành cho học sinh tiểu học phải khác với học sinh THCS, THPT hay sinh viên để tạo được sự hấp dẫn và hiệu quả tiếp cận.
Ngoài ra, bảo tàng cần gắn kết chặt chẽ hơn với nhà trường. Sự phối hợp không chỉ dừng ở các chuyến tham quan mà cần đi sâu vào chuyên môn, với sự tham gia của những người làm giáo dục bảo tàng và giáo viên Lịch sử nhằm xây dựng các chương trình trải nghiệm phù hợp, hấp dẫn và lôi cuốn hơn.
“Mục tiêu cuối cùng là để học sinh cảm thấy lịch sử thực sự thú vị, gần gũi chứ không phải điều gì xa xôi hay khô khan”, bà Thủy nhấn mạnh.
Ứng dụng công nghệ đang góp phần quan trọng trong đổi mới cách tiếp cận lịch sử tại các bảo tàng
Không chỉ dừng lại ở việc trưng bày hiện vật, các bảo tàng hiện nay đang chuyển mình mạnh mẽ nhờ công nghệ 3D và thực tế ảo. Đây chính là "chìa khóa" để đưa lịch sử đến gần hơn với giới trẻ, xóa nhòa khoảng cách địa lý và tạo ra những trải nghiệm cá nhân hóa độc đáo.

Thạc sĩ Phạm Thị Mai Thủy, Trưởng phòng Giáo dục - Truyền thông, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Ảnh: Phan Anh
Theo Thạc sĩ Phạm Thị Mai Thủy, việc ứng dụng công nghệ đang góp phần quan trọng trong đổi mới cách tiếp cận lịch sử tại các bảo tàng, giúp những câu chuyện lịch sử trở nên trực quan, sinh động và gần gũi hơn với công chúng, đặc biệt là giới trẻ.
Bà cho, biết Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam là một trong những đơn vị tiên phong ứng dụng công nghệ vào hoạt động trưng bày như công nghệ 3D, thực tế ảo và các chương trình giáo dục trực tuyến.
Theo Thạc sĩ Phạm Thị Mai Thủy, công nghệ tạo ra ba tác động lớn đối với hoạt động bảo tàng hiện nay. Trước hết, công nghệ giúp lịch sử trở nên trực quan và sống động hơn khi học sinh có thể “bước vào” không gian lịch sử thay vì chỉ tiếp nhận qua sách vở hay lời kể. Các ứng dụng thực tế ảo, mô hình 3D đang giúp nhiều hiện vật và câu chuyện lịch sử được tái hiện hấp dẫn hơn.
Bên cạnh đó, công nghệ còn tăng tính tương tác cho người xem. Học sinh không còn là người tiếp nhận thụ động mà có thể chủ động tìm hiểu, lựa chọn nội dung khám phá, từ đó ghi nhớ và hiểu sâu hơn về lịch sử.
Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ cũng mở rộng khả năng tiếp cận công chúng cho bảo tàng. Các chương trình như “Giờ học lịch sử online”, “Giờ học lịch sử online kết nối ba miền” đã giúp học sinh ở nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước tham gia học tập, thậm chí thu hút cả học sinh Việt kiều đang sinh sống ở nước ngoài.
Tuy nhiên, Thạc sĩ Phạm Thị Mai Thủy nhấn mạnh công nghệ chỉ là phương tiện hỗ trợ, không thể thay thế nội dung lịch sử. Theo bà, giá trị cốt lõi vẫn nằm ở chất lượng nghiên cứu và câu chuyện lịch sử. Khi có nội dung tốt, công nghệ sẽ trở thành cầu nối hiệu quả để truyền tải lịch sử tới công chúng theo cách hấp dẫn và gần gũi hơn.
Kết nối nhà trường và bảo tàng để học sinh yêu lịch sử hơn

Thầy Phạm Văn Hoan, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Bình Minh, Hà Nội. Ảnh: Phan Anh.
Theo thầy Phạm Văn Hoan, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Bình Minh, Hà Nội là địa phương có nhiều thuận lợi trong giáo dục lịch sử cho học sinh bởi sở hữu hệ thống di sản, bảo tàng và truyền thống cách mạng phong phú. Vì vậy, điều quan trọng là làm sao để học sinh coi bảo tàng như một “lớp học mở”, từ đó chủ động tìm hiểu lịch sử.
Thầy cho rằng, cách tổ chức tham quan cần thay đổi để tăng hiệu quả. Trước đây, nhiều trường thường tổ chức cho học sinh đi theo quy mô lớn để thuận tiện, nhưng việc chia nhỏ theo lớp hoặc nhóm sẽ giúp học sinh có trải nghiệm tốt hơn và tăng tương tác trong quá trình tham quan.
Vì thế, cần tăng cường kết nối thường xuyên giữa nhà trường và bảo tàng. Trong đó, nội dung học tập ở trường cần gắn với nội dung trưng bày tại bảo tàng để học sinh có sự chuẩn bị trước. Đồng thời, giáo viên và hướng dẫn viên cũng cần phối hợp chặt chẽ nhằm tạo sự liền mạch trong hoạt động trải nghiệm.
Bên cạnh đó, cũng cần xây dựng các chuyên đề học tập tại bảo tàng và đưa vào kế hoạch năm học thay vì tổ chức tham quan một cách tự phát. Sau mỗi hoạt động trải nghiệm cũng cần có đánh giá sản phẩm học tập của học sinh để tăng hiệu quả giáo dục.
Chia sẻ thêm về sự đổi mới của các bảo tàng, thầy nhắc tới Di tích Nhà tù Hỏa Lò như một ví dụ điển hình. Theo thầy, khoảng 7-8 năm trước, nơi đây từng gặp khó khăn trong việc thu hút khách tham quan, nhưng hiện nay đã trở thành điểm đến được nhiều người quan tâm nhờ cách làm mới nội dung và hình thức trải nghiệm. Thầy cho biết, ngay cả con trai mình từ Đức về thăm Hà Nội cũng phải đặt vé từ sớm mới có thể tham gia các chương trình trải nghiệm tại đây.
Theo thầy Phạm Văn Hoan, cả bảo tàng và nhà trường đều có nhiều cách để đổi mới và cần “bắt tay với nhau” để giúp học sinh yêu lịch sử một cách bài bản, hệ thống hơn.
Đừng để thế hệ trẻ "mất gốc" từ khoảng trống lịch sử
Theo thầy giáo Phạm Văn Hoan, nếu học sinh không hiểu và không yêu lịch sử, hệ lụy sẽ rất lớn. Thứ nhất, khi mất đi ký ức lịch sử, các em cũng đánh mất bản sắc và niềm tự hào dân tộc, từ đó dễ rơi vào tình trạng thiếu định hướng giá trị.

Thầy giáo Phạm Văn Hoan, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Bình Minh, Hà Nội chia sẻ tại Chương trình. Ảnh: Phan Anh
Phân tích sâu hơn, ông Hoan cho rằng, lịch sử không chỉ là một môn học, mà là nền tảng hình thành nhân cách. Nếu thiếu nền tảng này, thế hệ trẻ sẽ như “cái cây không có rễ”, dễ bị tác động, dao động trước các luồng thông tin, đặc biệt trong bối cảnh bùng nổ truyền thông hiện nay.
Thứ hai, các em có thể mất “la bàn đạo đức”, không xác định được những giá trị cốt lõi để phấn đấu, khiến lòng yêu nước đôi khi chỉ còn là khẩu hiệu.
Thứ ba, việc thiếu nền tảng lịch sử khiến học sinh mất đi “kho dữ liệu” kinh nghiệm của dân tộc, không hiểu được cách cha ông đã giải quyết những bài toán lớn trong quá khứ, như nghệ thuật quân sự "lấy ít địch nhiều", "lấy yếu chống mạnh", nguy hiểm hơn dễ lệ thuộc vào thông tin tra cứu mà thiếu chiều sâu.
Thứ tư, sự thờ ơ với lịch sử còn làm đứt gãy sợi dây kết nối giữa các thế hệ, khiến thế hệ trẻ ngày càng xa rời truyền thống gia đình và cội nguồn dân tộc.
Để lịch sử trở thành nền tảng hình thành nhân cách học sinh
Theo thầy giáo Phạm Văn Hoan, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Bình Minh, để lịch sử thực sự trở thành nền tảng hình thành nhân cách và khát vọng cho học sinh, điều quan trọng là phải giúp lịch sử có cảm xúc, có sự liên hệ với hiện tại và kết nối với tương lai.

Các khách mời trao đổi tại trường quay. Ảnh: Phan Anh
Giáo dục lịch sử không chỉ dừng ở việc truyền đạt kiến thức về quá khứ mà còn phải nuôi dưỡng khát vọng cho thế hệ trẻ. Thay vì chỉ học tên nhân vật hay ghi nhớ sự kiện, học sinh cần được học cách sống đẹp, làm những việc tốt từ tấm gương của các anh hùng, thế hệ đi trước. Đồng thời, việc học lịch sử cũng cần hướng tới giải quyết những vấn đề của hiện tại thông qua bài học từ tiền nhân.
Thầy giáo Phạm Văn Hoan cho rằng, lịch sử sẽ trở nên gần gũi hơn nếu học sinh được học cùng gia đình, nhiều thế hệ. Học sinh có thể phỏng vấn ông bà, cha mẹ về ký ức chiến tranh, cuộc sống trước đây hoặc lắng nghe các cựu chiến binh kể chuyện trực tiếp tại lớp học. Ông Hoan cũng nhấn mạnh việc giúp học sinh “học để làm người tử tế” thay vì chỉ học để thi, đồng thời tăng cường cho học sinh tham quan bảo tàng để tạo cảm xúc và sự kết nối với lịch sử.
Về nội dung này, Thạc sĩ Phạm Thị Mai Thủy cho rằng, lịch sử chỉ thực sự có ý nghĩa khi học sinh thấy bản thân mình trong đó và cảm nhận được sự kết nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai.
Theo bà Thủy, điều này phụ thuộc vào cách nhà trường, giáo viên và những người làm bảo tàng kể chuyện lịch sử, truyền tải lịch sử sao cho gần gũi, chạm tới cảm xúc của học sinh. Mục tiêu không chỉ để các em ghi nhớ sự kiện mà còn giúp hiểu con người trong lịch sử đã sống, đã lựa chọn như thế nào, từ đó tự đặt câu hỏi về cách sống của chính mình.
Khi lịch sử tác động được đến suy nghĩ và lựa chọn của học sinh, lịch sử sẽ không còn đơn thuần là một môn học mà trở thành nền tảng hình thành nhân cách và khát vọng cho thế hệ trẻ.
Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/khoi-day-tinh-yeu-lich-su-tu-khong-gian-bao-tang-748756.html









