Khơi thông dòng vốn, nâng sức hấp thụ của doanh nghiệp
Nhu cầu vốn cho mục tiêu tăng trưởng cao đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về đa dạng hóa kênh dẫn vốn, tháo gỡ vướng mắc thể chế và nâng cao khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp.
Nhu cầu vốn tăng mạnh, nhiều điểm nghẽn cần tháo gỡ
Tại hội thảo “Tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng” sáng 22/10 tại Hà Nội, TS Nguyễn Đức Hiển - Phó Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho biết, tổng vốn cần huy động cho giai đoạn 2026-2030 ước khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, gấp 2,2 lần mức 17,4 triệu tỷ đồng của giai đoạn 2021-2025.
Trong đó, vốn đầu tư của Nhà nước dự kiến đạt khoảng 12,5 triệu tỷ đồng; vốn đầu tư ngoài Nhà nước khoảng 20,4 triệu tỷ đồng và vốn đầu tư khu vực FDI khoảng 5,6 triệu tỷ đồng. Quy mô nguồn lực cần huy động rất lớn, đòi hỏi phải khai thác hiệu quả cả nguồn vốn ngân sách và ngoài ngân sách.

TS Nguyễn Đức Hiển - Phó Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương. Ảnh: BTC
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Viết Việt - Tổng Biên tập Tạp chí điện tử Kinh tế Chứng khoán Việt Nam, nền kinh tế không thiếu tiềm năng, cơ hội đầu tư và nguồn lực có thể huy động. Vấn đề là nhiều nguồn lực chưa được đưa vào sử dụng hiệu quả.
Nhiều dự án đã được đầu tư nguồn lực lớn nhưng vẫn đình trệ do vướng mắc pháp lý, đất đai và thủ tục hành chính. Không ít doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng sản xuất, kinh doanh nhưng gặp khó khăn trong tiếp cận vốn, trong khi sức mua và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế còn hạn chế.
“Nguồn lực dù lớn đến đâu, nếu không được kết nối và vận hành thông suốt thì cũng chưa thể trở thành động lực tăng trưởng”, ông Việt nhấn mạnh.
Tháo gỡ vướng mắc pháp lý mới chỉ là một phần của bài toán. Dự án được khơi thông nhưng thiếu vốn vẫn khó triển khai; dòng vốn được cung ứng nhưng doanh nghiệp không hấp thụ được sẽ khó phát huy hiệu quả. Nếu sản phẩm được tạo ra nhưng sức mua chưa cải thiện, vòng quay của đồng vốn vẫn có thể bị gián đoạn.
Áp lực huy động vốn còn thể hiện ở sự mất cân đối về kỳ hạn trong hệ thống ngân hàng. Trong 9 tháng đầu năm 2026, dư nợ tín dụng tăng 9,23% so với cuối năm 2025, huy động vốn bằng đồng Việt Nam tăng 10,5%. Tuy nhiên, khoảng 80% nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng có kỳ hạn dưới 12 tháng, trong khi khoảng 50% dư nợ tín dụng là trung và dài hạn.
Thực tế này cho thấy, nếu tiếp tục dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, áp lực cân đối nguồn vốn và điều hành kinh tế vĩ mô sẽ ngày càng lớn.
Với thị trường chứng khoán, TS Cấn Văn Lực - Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia chỉ ra tình trạng thanh khoản thiếu ổn định, cơ cấu ngành tập trung cao và lực lượng nhà đầu tư tổ chức còn mỏng.

TS Cấn Văn Lực - Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia.
Theo số liệu ông Lực nêu tại hội thảo, ngân hàng - tài chính chiếm 43,8% và bất động sản chiếm 27,2% cơ cấu thị trường. Trong khi đó, dư nợ cho vay ký quỹ (margin) tăng từ 125.000 tỷ đồng trong quý I/2023 lên 470.000 tỷ đồng trong quý III/2026. Mức đòn bẩy tài chính cao có thể làm gia tăng rủi ro khi thị trường đảo chiều, nhất là trong điều kiện lãi suất neo cao.
Những hạn chế về khung khổ thể chế, hạ tầng dữ liệu, dịch vụ xếp hạng tín nhiệm và quản trị doanh nghiệp cũng ảnh hưởng đến hiệu quả huy động, phân bổ vốn. Đặc biệt, doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng doanh nghiệp khoa học, công nghệ, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo vẫn gặp khó khăn khi tiếp cận các nguồn tài chính phù hợp.
Với doanh nghiệp sở hữu tài sản chủ yếu là tài sản trí tuệ, việc định giá để sử dụng làm tài sản bảo đảm vay vốn còn nhiều vướng mắc. Đây là một trong những rào cản khiến nguồn lực cho đổi mới sáng tạo chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng.
Đa dạng kênh vốn, nâng cao năng lực hấp thụ
Để giải quyết các điểm nghẽn, các chuyên gia cho rằng cần phối hợp đồng bộ giữa hoàn thiện thể chế, phát triển thị trường vốn, tháo gỡ khó khăn cho dự án và nâng cao năng lực của doanh nghiệp.
Trước hết, cần giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng bằng cách phát triển thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp và các công cụ huy động vốn dài hạn. Việc phát triển các kênh này phải gắn với nâng cao tính minh bạch, chất lượng xếp hạng tín nhiệm và khả năng quản trị rủi ro, đồng thời tránh tạo ra những rào cản quá mức đối với hoạt động huy động vốn hợp pháp của doanh nghiệp.
TS Nguyễn Đức Hiển cho rằng cần tiếp tục cải cách thị trường chứng khoán, hoàn thiện cơ chế cho nhà đầu tư nước ngoài, phát triển các công cụ phòng ngừa rủi ro ngoại hối và thực hiện các biện pháp chống rửa tiền. Đồng thời, cần mở rộng cơ sở nhà đầu tư, đặc biệt là các quỹ đầu tư tổ chức, và nghiên cứu cơ chế đưa nguồn vốn từ các quỹ vào thị trường tài chính.
Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần phát triển các mô hình kết nối tài chính, cho thuê tài chính nhằm giảm khâu trung gian và chi phí tiếp cận vốn. Đối với doanh nghiệp khoa học, công nghệ và doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, cần tháo gỡ vướng mắc trong định giá tài sản trí tuệ, làm rõ trách nhiệm của các bên và hoàn thiện cơ chế để loại tài sản này có thể phát huy giá trị trong hoạt động huy động vốn.
TS Cấn Văn Lực nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện đồng bộ thể chế tài chính, nâng cao năng lực quản lý, giám sát theo hướng kiểm soát rủi ro hệ thống, rủi ro chéo và an ninh dữ liệu. Cùng với đó là thực hiện hiệu quả các đề án phát triển thị trường vốn, tài chính xanh, tài chính số và thị trường carbon; tiếp tục cải thiện điều kiện nâng hạng thị trường chứng khoán, nâng hệ số tín nhiệm quốc gia để tăng khả năng hội nhập tài chính quốc tế.
Một hướng đi khác là mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế. Theo TS Nguyễn Đức Hiển, Việt Nam có thể nghiên cứu phát hành trái phiếu Samurai tại Nhật Bản, phối hợp với Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Á để xây dựng cơ chế huy động vốn cho các dự án hạ tầng. Chính quyền địa phương cũng cần chủ động hơn trong tiếp cận các nguồn vốn quốc tế và những kênh vốn khác phục vụ phát triển.
Song song với việc mở rộng nguồn cung vốn, cần đẩy nhanh tháo gỡ vướng mắc pháp lý cho các dự án tồn đọng, khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai và tài sản công dôi dư. Việc khơi thông các dự án không chỉ giúp giải phóng nguồn lực đang bị đình trệ mà còn tạo thêm nhu cầu đối với tín dụng, vật liệu, lao động và các dịch vụ liên quan.
Theo TS Cấn Văn Lực, cần phối hợp chặt chẽ chính sách tài khóa và tiền tệ, cơ cấu lại ngân sách theo hướng ưu tiên hạ tầng số, khoa học và công nghệ, giáo dục, y tế và chuyển đổi xanh. Đồng thời, cần phát huy vai trò của các quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, quỹ đổi mới sáng tạo và quỹ đầu tư mạo hiểm, qua đó mở thêm kênh dẫn vốn cho những lĩnh vực có tiềm năng.
Tuy nhiên, khơi thông dòng vốn chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi cùng khả năng hấp thụ của doanh nghiệp và sức cầu thị trường. Doanh nghiệp cần nâng cao năng lực quản trị, minh bạch thông tin, xây dựng phương án kinh doanh khả thi và sử dụng vốn đúng mục đích. Cơ quan quản lý cũng cần cải thiện môi trường đầu tư, rút ngắn thủ tục và bảo đảm chính sách được thực thi nhất quán để doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh.
Như ông Nguyễn Viết Việt nhấn mạnh, tăng trưởng cao đòi hỏi sự vận hành đồng bộ giữa thể chế, đầu tư, tín dụng, thị trường vốn và sức cầu của nền kinh tế. Khi các điểm nghẽn được tháo gỡ, dòng vốn được phân bổ hiệu quả và doanh nghiệp đủ năng lực chuyển hóa nguồn lực thành sản phẩm, giá trị gia tăng, mục tiêu tăng trưởng mới có cơ sở để đạt được bền vững.

