Khơi thông 300 tỷ USD vốn đầu tư: Nút thắt ở khả năng luân chuyển

Nhu cầu vốn ngày càng lớn đòi hỏi đa dạng hóa các kênh huy động, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Trong giai đoạn 2026–2030, Việt Nam cần lượng vốn đầu tư lớn để đạt mục tiêu tăng trưởng cao. Tuy nhiên, thách thức không dừng ở việc huy động đủ vốn, mà còn nằm ở khả năng phân bổ nguồn lực đến đúng nơi, đưa các dự án vào triển khai và duy trì dòng vốn luân chuyển trong nền kinh tế.

Thực tế, dòng vốn vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng trong khi thị trường vốn chưa phát huy hết vai trò, nhiều dự án còn vướng pháp lý và giải ngân đầu tư công chưa đạt kỳ vọng.

Các chuyên gia cho rằng nhu cầu vốn lớn trong giai đoạn 2026–2030 khiến việc huy động thêm nguồn lực trở thành yêu cầu cấp thiết. Ảnh: DP

Các chuyên gia cho rằng nhu cầu vốn lớn trong giai đoạn 2026–2030 khiến việc huy động thêm nguồn lực trở thành yêu cầu cấp thiết. Ảnh: DP

“Thách thức không chỉ nằm ở việc huy động vốn mà còn ở cơ chế đưa nguồn lực vào sử dụng hiệu quả”, TS. Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, nhấn mạnh tại hội thảo “Khơi thông dòng vốn, giải phóng nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số” do Tạp chí điện tử Kinh tế Chứng khoán Việt Nam và Hệ sinh thái Truyền thông Tài chính Người Quan Sát phối hợp tổ chức mới đây,

Áp lực đa dạng hóa nguồn vốn

Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026–2030, Việt Nam cần duy trì tốc độ tăng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 13–15% mỗi năm, tương ứng nhu cầu vốn ước tính 280–300 tỷ USD mỗi năm. Vốn dự kiến đóng góp khoảng 40–42% vào tăng trưởng kinh tế.

Trong cơ cấu này, ngân sách Nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 22% tổng nhu cầu, phần còn lại phụ thuộc vào khu vực tư nhân trong và ngoài nước.

Thông tin trên được TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV chia sẻ, đồng thời đặt ra yêu cầu mở rộng các kênh huy động vốn bởi hệ thống ngân hàng hiện vẫn giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn cho nền kinh tế.

Sự phụ thuộc này thể hiện rõ ở nhu cầu tài trợ các dự án trung và dài hạn. Ngân hàng có vai trò quan trọng trong giai đoạn đầu tư, xây dựng nhưng khi dự án hoàn thành và đi vào vận hành, doanh nghiệp cần thêm những kênh huy động phù hợp để tiếp tục phát triển, đồng thời giảm áp lực vay vốn ngân hàng.

Trước bối cảnh đó, PGS.TS. Phùng Thế Đông, chuyên gia kinh tế của Bộ Tài chính, cho rằng tín dụng ngân hàng và thị trường vốn cần được phát triển đồng bộ theo từng giai đoạn trong vòng đời dự án.

Khi công trình đi vào hoạt động và hình thành dòng tiền, doanh nghiệp có thể huy động vốn qua trái phiếu và các kênh thị trường vốn khác.

PGS.TS. Phùng Thế Đông, chuyên gia kinh tế của Bộ Tài chính

Theo ông Đông, tăng trưởng tín dụng hiện ở mức gần 11% so với đầu năm trong khi huy động vốn tăng khoảng 9,8%. Chênh lệch này cho thấy yêu cầu củng cố cả đầu vào lẫn đầu ra của dòng vốn, đồng thời phát triển lực lượng nhà đầu tư dài hạn để tạo nguồn cầu ổn định cho thị trường trái phiếu.

Vấn đề vì thế nằm ở cấu trúc cung ứng vốn. Nếu doanh nghiệp tiếp tục dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng, trong khi các kênh cổ phiếu, trái phiếu và quỹ đầu tư chưa phát huy tương xứng vai trò, nền kinh tế sẽ khó đa dạng hóa nguồn tài trợ cho nhu cầu đầu tư ngày càng lớn.

Vốn mắc kẹt ở khâu triển khai

Ngay cả khi có khả năng huy động vốn, nền kinh tế vẫn cần giải quyết một khâu quan trọng là đưa nguồn lực vào những dự án có thể triển khai và phát huy hiệu quả.

Tại hội thảo, TS. Nguyễn Thị Ngọc Hà, chuyên gia tài chính, cho biết tỷ lệ giải ngân đầu tư công đến hết quý III/2026 đạt 62,9% kế hoạch. Trong đó, khối cơ quan trung ương đạt 44,1%, còn các địa phương đạt 73,6%.

Khoảng cách giữa các nhóm cho thấy tiến độ giải ngân chưa đồng đều. Trong khi đó, vốn đầu tư thực hiện tăng khoảng 15% theo giá hiện hành nhưng chỉ tăng 7,6% theo giá so sánh.  

Những con số trên đặt hiệu quả sử dụng vốn vào vị trí quan trọng trong câu chuyện tăng trưởng. Vốn đầu tư tăng lên chưa đồng nghĩa với việc toàn bộ nguồn lực đã được chuyển thành công trình, năng lực sản xuất hay hoạt động kinh doanh mới.

Một phần nguồn lực còn bị giữ lại bởi các vướng mắc về pháp lý, đất đai và thủ tục. Theo TS. Cấn Văn Lực, khoảng 3.600 dự án đã được tháo gỡ hoặc có phương án xử lý, qua đó khơi thông khoảng 2,4–2,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư.

Quy mô nguồn lực liên quan đến các dự án này cho thấy việc tháo gỡ điểm nghẽn có thể tạo thêm dư địa cho đầu tư.

Nếu trong giai đoạn 2026–2028, toàn bộ khoảng 5.000 dự án được tháo gỡ và mỗi năm khoảng 30% lượng vốn này được bổ sung vào nền kinh tế, ông Lực ước tính tăng trưởng GDP có thể tăng thêm 0,6–0,8 điểm phần trăm mỗi năm.

Tuy nhiên, để vốn thực sự quay trở lại nền kinh tế, việc xử lý thủ tục phải đi cùng khả năng triển khai dự án. Luật sư Phạm Thanh Tuấn cho rằng địa phương cần xác định cụ thể từng dự án vướng mắc ở đâu, nguyên nhân là gì, từ đó phân loại và áp dụng cơ chế xử lý phù hợp.

Theo ông, ngân hàng chỉ có thể cung cấp vốn cho những dự án đáp ứng điều kiện pháp lý để tiếp tục triển khai.

Vì vậy, sự chủ động của chính quyền địa phương trong hoàn thiện thủ tục, quy hoạch và xử lý vướng mắc đất đai có ý nghĩa quyết định đối với tiến độ đưa dự án trở lại hoạt động.

Nói cách khác, tháo gỡ “điểm nghẽn” pháp lý là một mắt xích của quá trình luân chuyển vốn. Khi dự án chưa đủ điều kiện triển khai, khả năng cung ứng vốn của ngân hàng cũng khó chuyển thành hoạt động đầu tư thực tế.

Mở rộng kênh dẫn vốn dài hạn

Để dòng vốn vận động thông suốt hơn, các chuyên gia cho rằng cần đồng thời mở rộng kênh huy động và cải thiện khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp.

TS. Cấn Văn Lực đề xuất phát triển mạnh thị trường cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp và các kênh huy động ngoài ngân hàng. Cùng với đó là nâng cao chất lượng hàng hóa, quản trị và tính minh bạch trên thị trường chứng khoán, tăng cường bảo vệ nhà đầu tư và phát triển hạ tầng dữ liệu.

Hiệu quả sử dụng vốn đóng vai trò quan trọng trong câu chuyện tăng trưởng. Ảnh: Hoàng Anh

Hiệu quả sử dụng vốn đóng vai trò quan trọng trong câu chuyện tăng trưởng. Ảnh: Hoàng Anh

Đối với doanh nghiệp, việc tiếp cận các nguồn vốn mới đòi hỏi thay đổi cách huy động vốn. Theo ông Lực, doanh nghiệp cần chủ động tìm kiếm nguồn tài trợ từ trái phiếu và thị trường quốc tế, đồng thời nâng cao tính minh bạch, công khai thông tin và năng lực quản trị để đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư.

Một hướng đi khác là phát triển các định chế đầu tư dài hạn. Theo ông Lực, các quỹ đầu tư hiện quản lý khoảng 850.000 tỷ đồng, trong khi nguồn lực từ quỹ bảo hiểm xã hội cũng rất lớn nhưng chưa được khai thác đa dạng qua nhiều kênh đầu tư.

Phát triển các quỹ đầu tư, trái phiếu hạ tầng, trái phiếu chính quyền địa phương và quỹ tín thác đầu tư bất động sản có thể mở rộng lựa chọn huy động vốn cho doanh nghiệp và các dự án.

Dù vậy, đa dạng hóa nguồn cung vốn cần đi cùng khả năng phân bổ vốn hiệu quả. Thị trường vốn chỉ có thể chia sẻ vai trò với ngân hàng khi doanh nghiệp có đủ năng lực công bố thông tin, nhà đầu tư có cơ sở đánh giá rủi ro và các dự án có phương án sử dụng vốn phù hợp.

Bên cạnh đó, đầu tư công cũng cần được xem xét từ góc độ hiệu quả. TS. Cấn Văn Lực cho biết hệ số ICOR của Việt Nam hiện khoảng 4,5–4,8 lần và kiến nghị phấn đấu giảm về khoảng 4 lần. Mục tiêu này đặt trọng tâm vào khả năng tạo ra tăng trưởng từ mỗi đồng vốn đầu tư, thay vì chỉ mở rộng quy mô vốn.

Nhu cầu vốn lớn trong giai đoạn 2026–2030 khiến việc huy động thêm nguồn lực trở thành yêu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, để nguồn lực đó tạo ra tăng trưởng, các khâu từ hoàn thiện pháp lý, triển khai dự án đến phát triển thị trường vốn và nâng cao năng lực doanh nghiệp cần vận hành đồng bộ.

Khi tín dụng ngân hàng, thị trường vốn và các định chế đầu tư dài hạn có thể bổ trợ cho nhau, dòng vốn sẽ có thêm con đường đi từ huy động đến đầu tư, từ dự án đến dòng tiền và tiếp tục quay trở lại hoạt động kinh tế. Đó là điều kiện để nguồn lực được sử dụng hiệu quả hơn, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng của nền kinh tế.

Nam Hải

Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/khoi-thong-300-ty-usd-von-dau-tu-nut-that-o-kha-nang-luan-chuyen-d48021.html