Khơi thông sức sản xuất, tạo đà cho kinh tế phát triển
Chính sách giảm 30% số thuế phải nộp trong hai năm 2026-2027 cho cá nhân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp có doanh thu dưới 10 tỷ đồng/năm có phạm vi tác động đặc biệt rộng. Với tỷ lệ bao phủ 99,86% hộ kinh doanh và 81,1% doanh nghiệp, đây không đơn thuần là giải pháp tài chính ngắn hạn.
Quyết sách này cho thấy, Nhà nước chấp nhận giảm một phần nguồn thu trước mắt để nuôi dưỡng sức sản xuất, tạo dư địa thu lớn hơn và bền vững hơn trong tương lai. Khi hàng triệu chủ thể kinh doanh cùng có thêm một phần nguồn lực, tác động cộng hưởng đối với nền kinh tế là không nhỏ.
Tuy nhiên, giảm thuế mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ nằm ở chỗ, nguồn lực giữ lại đó sẽ được chuyển hóa thế nào vào nền kinh tế thực?
Với các hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ, dòng tiền là yếu tố sinh tồn. Một khoản thuế được miễn giảm có thể lập tức biến thành nguyên vật liệu, tiền lương, chi phí đổi mới máy móc hay mở rộng thị trường. Nhưng nếu tiền giảm thuế chỉ dừng lại ở việc gỡ khó tạm thời mà không tạo ra động lực tái đầu tư, hiệu quả kích thích tăng trưởng sẽ rất hạn chế. Nói cách khác, khi doanh nghiệp dùng nguồn lực này để đổi mới công nghệ, nâng năng suất, mở rộng sản xuất, giữ việc làm và phát triển thị trường, chính sách sẽ tạo ra nhiều vòng quay kinh tế. Doanh nghiệp tăng doanh thu, người lao động có thêm thu nhập, sức mua được cải thiện và cơ sở thuế theo đó cũng mở rộng.
Ngược lại, nếu chính sách chỉ dừng ở việc giúp người kinh doanh giảm bớt một khoản nghĩa vụ mà chưa tạo được động lực đầu tư, đổi mới và mở rộng sản xuất, hiệu quả kích thích tăng trưởng sẽ hạn chế. Vì vậy, để chính sách đi vào cuộc sống, đòi hỏi ba giải pháp đồng bộ.
Thứ nhất, giảm thuế phải đi đôi với giảm “chi phí tuân thủ”. Ngành Thuế đang đẩy mạnh minh bạch hóa và chuyển đổi số, với yêu cầu đặt ra là thủ tục phải đơn giản, dễ hiểu, dễ làm. Chính sách này cần được cơ quan thuế chủ động công khai, hướng dẫn tận tay người dân, doanh nghiệp, giúp người dân, doanh nghiệp nhanh chóng được hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Chuyển đổi số phải giúp giảm thời gian và chi phí, tránh tạo thêm gánh nặng thủ tục.
Thứ hai, chính sách thuế cần được kết nối với hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện. Doanh nghiệp có thêm tiền nhưng nếu vẫn nghẽn tín dụng, thiếu mặt bằng, mù mờ thông tin thị trường thì năng lực sản xuất mới vẫn không thể hình thành. Giảm thuế phải gắn liền với các chính sách ưu đãi tín dụng, hỗ trợ thương mại điện tử, đào tạo quản trị và kết nối chuỗi cung ứng.
Thứ ba, chính sách phải tạo động lực cho khu vực hộ kinh doanh, đặc biệt tại Hà Nội phát triển thành doanh nghiệp. Thủ đô là nơi tập trung lực lượng hộ kinh doanh đông đảo, nguồn lực tạo việc làm và hàng hóa rất lớn. Rất nhiều hộ đã đủ quy mô và năng lực để phát triển thành doanh nghiệp. Việc thúc đẩy chuyển đổi mô hình phải dựa trên lợi ích thực tế: Khi chính thức hóa hoạt động, họ dễ tiếp cận vốn ngân hàng hơn, ký được hợp đồng lớn hơn và nâng cao năng lực cạnh tranh. Hà Nội cần tận dụng việc giảm thuế để tạo cú hích, gắn hỗ trợ thuế với tư vấn chuyển đổi mô hình kinh doanh, giúp tạo ra những doanh nghiệp thực chất, có sức sống, chứ không phải những “doanh nghiệp trên giấy”.
Một đồng ngân sách miễn giảm hôm nay chỉ thực sự có ý nghĩa nếu đổi lại được một đồng vốn mới cho sản xuất, một việc làm mới và một cơ sở thuế rộng mở hơn ngày mai. Suy cho cùng, giảm 30% thuế không phải là đích đến, mà là điểm tựa để khơi thông sức sản xuất, tạo đà cho kinh tế Thủ đô và cả nước phát triển bền vững.
