Khơi thông tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa: Dòng vốn cần hướng tới tăng trưởng xanh

Dòng vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được khơi thông, đồng thời hướng vào đổi mới công nghệ, tiết kiệm tài nguyên và thúc đẩy sản xuất xanh.

Từ bài toán tiếp cận vốn đến yêu cầu chuyển đổi xanh

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế nhưng cũng là nhóm dễ chịu tác động trước biến động thị trường, chi phí đầu vào và những yêu cầu ngày càng cao về chuyển đổi mô hình sản xuất.

 Hội nghị Tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (ảnh TBNH).

Hội nghị Tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (ảnh TBNH).

Tại Hội nghị tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho DNNVV ngày 18/9, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn khẳng định, trong bối cảnh đất nước hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao, ngành Ngân hàng sẽ tiếp tục đồng hành, tạo điều kiện về vốn, sản phẩm và dịch vụ ngân hàng phù hợp cho khu vực doanh nghiệp này.

Đáng chú ý, một trong những định hướng được đặt ra là tăng cường tín dụng cho DNNVV thông qua các hạn mức, chương trình và sản phẩm tín dụng phục vụ đổi mới máy móc, thiết bị, công nghệ, sản xuất xanh, xuất nhập khẩu và các nhu cầu sản xuất, kinh doanh khác.

Nhìn từ góc độ kinh tế môi trường, đây là vấn đề có ý nghĩa lớn hơn việc giải quyết nhu cầu vốn đơn thuần. Dòng tín dụng nếu được định hướng phù hợp có thể trở thành nguồn lực giúp doanh nghiệp thay đổi công nghệ, giảm tiêu hao nguyên liệu và năng lượng, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, qua đó cải thiện sức cạnh tranh trong dài hạn.

Điều này đặc biệt quan trọng đối với DNNVV. Khác với các doanh nghiệp lớn có khả năng huy động vốn qua nhiều kênh, không ít DNNVV vẫn phụ thuộc đáng kể vào vốn ngân hàng. Trong khi đó, quá trình chuyển đổi xanh thường đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu tương đối lớn, từ thay thế dây chuyền, máy móc cũ, sử dụng thiết bị tiết kiệm năng lượng đến đầu tư hệ thống xử lý chất thải, tuần hoàn phụ phẩm hay số hóa quản trị sản xuất.

Nếu thiếu nguồn vốn có kỳ hạn và chi phí phù hợp, doanh nghiệp có thể nhận thấy sức ép phải chuyển đổi nhưng khó biến yêu cầu đó thành những dự án đầu tư cụ thể.

Ở chiều ngược lại, việc mở rộng tín dụng cũng không đồng nghĩa với hạ thấp điều kiện cho vay. Quan điểm được đưa ra tại hội nghị là hỗ trợ DNNVV không nên vận hành theo cơ chế “xin - cho”; vốn cần đến đúng thời điểm, đúng kỳ hạn, với lãi suất phù hợp, đồng thời không hạ chuẩn tín dụng nhưng phải phù hợp với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp.

Đây cũng là nguyên tắc cần thiết đối với tín dụng phục vụ chuyển đổi xanh. Một dự án dù được xác định theo hướng thân thiện với môi trường nhưng thiếu hiệu quả kinh tế, không tạo được dòng tiền và không bảo đảm khả năng trả nợ thì khó có thể trở thành mô hình phát triển bền vững.

Vấn đề vì thế nằm ở khả năng đánh giá doanh nghiệp một cách thực chất hơn. Thay vì phụ thuộc quá nhiều vào tài sản bảo đảm, việc khai thác dữ liệu về hoạt động sản xuất, dòng tiền, lịch sử tín dụng và năng lực quản trị có thể giúp các ngân hàng nhận diện những doanh nghiệp có phương án kinh doanh khả thi nhưng hạn chế về tài sản thế chấp.

Theo nội dung hội nghị, việc tăng kết nối, khai thác dữ liệu liên quan đến thuế, hóa đơn điện tử, đất đai, đăng ký doanh nghiệp, bảo hiểm xã hội và thông tin tín dụng được đặt ra nhằm hỗ trợ quá trình thẩm định, đánh giá khách hàng.

Trong tương lai, nếu dữ liệu về tiêu thụ năng lượng, nguyên liệu, công nghệ hay hiệu quả môi trường của dự án được chuẩn hóa tốt hơn, đây cũng có thể trở thành cơ sở hỗ trợ các tổ chức tín dụng đánh giá hiệu quả của những khoản vay phục vụ chuyển đổi xanh.

Để dòng vốn trở thành động lựccho tăng trưởng bền vững

Khơi thông tín dụng mới giải quyết một phía của bài toán. Để vốn thực sự đi vào sản xuất và tạo ra hiệu quả lâu dài, bản thân DNNVV cũng phải nâng cao chất lượng quản trị và khả năng chống chịu.

Số liệu được công bố tại hội nghị cho thấy năm 2025 có hơn 114.000 doanh nghiệp ngừng hoạt động và khoảng 35.900 doanh nghiệp giải thể. Trong 8 tháng đầu năm 2026, khoảng 88.000 doanh nghiệp ngừng hoạt động và 40.800 doanh nghiệp giải thể.

Những con số này cho thấy mở rộng tín dụng phải đi cùng kiểm soát chất lượng vốn. Ngân hàng huy động tiền trong nền kinh tế để cho vay nên đồng thời phải đánh giá năng lực khách hàng, phương án sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ và kiểm soát rủi ro.

Về phía doanh nghiệp, yêu cầu đặt ra là minh bạch hóa thông tin tài chính, quản trị dòng tiền tốt hơn và xây dựng phương án đầu tư khả thi. Đặc biệt, với những doanh nghiệp muốn tiếp cận nguồn vốn phục vụ chuyển đổi xanh, hiệu quả môi trường cần từng bước được chuyển thành những chỉ tiêu kinh tế có thể nhận diện và đo lường.

Theo thông tin tại hội nghị, đến cuối tháng 8/2026, dư nợ tín dụng đối với DNNVV đ

ạt trên 4,1 triệu tỷ đồng, tăng 12,37% so với cuối năm 2025 và chiếm khoảng 20% tổng dư nợ toàn nền kinh tế.

Ngành Ngân hàng định hướng tiếp tục phát triển các sản phẩm tín dụng phục vụ đổi mới máy móc, thiết bị, công nghệ, sản xuất xanh, xuất nhập khẩu; đồng thời nghiên cứu các hình thức như bảo lãnh, bao thanh toán, cho thuê tài chính, tài trợ chuỗi cung ứng và sản phẩm tài chính số.

Chẳng hạn, khoản đầu tư thay đổi dây chuyền sản xuất không chỉ được nhìn ở việc sử dụng công nghệ mới mà còn cần xác định lượng điện tiết kiệm, mức giảm nguyên liệu đầu vào, khả năng tận dụng phụ phẩm, chi phí sản xuất giảm được và thời gian hoàn vốn. Khi những lợi ích môi trường được lượng hóa thành hiệu quả kinh tế, khả năng tiếp cận vốn của dự án cũng có cơ sở rõ ràng hơn.

Một định hướng đáng chú ý khác được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đặt ra là các tổ chức tín dụng cần chuyển từ tư duy “doanh nghiệp tìm đến ngân hàng” sang “ngân hàng chủ động tìm đến doanh nghiệp”.

Nếu được triển khai thực chất, đây có thể là thay đổi quan trọng đối với quá trình xanh hóa khu vực DNNVV.

Thay vì đợi doanh nghiệp phát sinh nhu cầu rồi mới tiếp nhận hồ sơ, ngân hàng có thể xây dựng sản phẩm tín dụng theo từng ngành, chuỗi sản xuất và nhóm nhu cầu; chủ động nhận diện những doanh nghiệp cần đầu tư thiết bị tiết kiệm năng lượng, công nghệ sạch, sản xuất tuần hoàn hoặc đáp ứng tiêu chuẩn của chuỗi cung ứng.

Các phương thức tài trợ cũng có thể được mở rộng ngoài khoản vay truyền thống. Những công cụ như bảo lãnh, bao thanh toán, cho thuê tài chính, tài trợ chuỗi cung ứng hay các sản phẩm tài chính số được đề cập tại hội nghị có thể giúp DNNVV có thêm lựa chọn tiếp cận nguồn lực.

Đặc biệt, cho thuê tài chính có thể phù hợp với nhu cầu thay đổi máy móc, thiết bị của những doanh nghiệp chưa đủ khả năng bỏ ra khoản vốn đầu tư lớn ngay từ đầu. Tài trợ chuỗi cung ứng cũng tạo điều kiện để các doanh nghiệp nhỏ tham gia sâu hơn vào hệ thống sản xuất của doanh nghiệp lớn, trong đó những yêu cầu về môi trường, truy xuất nguồn gốc và phát thải đang ngày càng được quan tâm.

Với quy mô dư nợ DNNVV đã vượt 4,1 triệu tỷ đồng, cách thức phân bổ dòng vốn có khả năng tạo ảnh hưởng đáng kể đến hướng đầu tư của khu vực doanh nghiệp. Nếu nguồn tín dụng được đưa vào những phương án sản xuất hiệu quả, đổi mới công nghệ, giảm tiêu hao tài nguyên và nâng cao năng lực cạnh tranh, tác động của nó sẽ vượt ra ngoài phạm vi hỗ trợ một doanh nghiệp đơn lẻ.

Bởi vậy, bài toán trong giai đoạn tới không chỉ là doanh nghiệp vay được bao nhiêu vốn, mà còn là dòng vốn tạo ra giá trị gì cho nền kinh tế.

Khi ngân hàng chủ động tìm đến doanh nghiệp, doanh nghiệp minh bạch hơn và nguồn vốn ngày càng gắn với đổi mới công nghệ, hiệu quả tài nguyên và sản xuất xanh, tín dụng có thể trở thành một trong những động lực thúc đẩy DNNVV chuyển từ mục tiêu duy trì hoạt động sang nâng cao năng suất, sức cạnh tranh và phát triển bền vững.

Xuân Hòa

Nguồn Kinh tế Môi trường: https://kinhtemoitruong.vn/khoi-thong-tin-dung-cho-doanh-nghiep-nho-va-vua-dong-von-can-huong-toi-tang-truong-xanh-118714.html