Không để chỉ tiêu làm ảnh hưởng chất lượng hoạt động tư pháp
Đó là góp ý của Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai Siu Hương đối với dự án Nghị quyết của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và công tác thi hành án.
Chỉ tiêu phải thực chất, không chạy theo tỷ lệ
Tham gia thảo luận tại hội trường về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và công tác thi hành án (thay thế Nghị quyết số 96/2019/QH14 của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án), đại biểu (ĐB) Siu Hương - Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai cơ bản tán thành với nội dung của dự thảo.
Đại biểu đánh giá cao việc dự thảo Nghị quyết kế thừa những nội dung còn phù hợp của Nghị quyết số 96/2019/QH14, đồng thời bổ sung, lượng hóa một số chỉ tiêu nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Đại biểu Siu Hương đề nghị không để chỉ tiêu làm ảnh hưởng chất lượng hoạt động tư pháp. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai
Tuy nhiên, qua nghiên cứu báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến đại biểu Quốc hội của Ban soạn thảo, ĐB Siu Hương đề nghị tiếp tục làm rõ 3 vấn đề để Nghị quyết khi ban hành không chỉ có chỉ tiêu mà quan trọng hơn là phải thực hiện được và giám sát được.
Về điểm c khoản 1 Điều 4, ĐB Siu Hương lựa chọn phương án 1, quy định tỷ lệ giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm từ 60% trở lên. Trong khi đó, dự thảo báo cáo tiếp thu, giải trình của Ban soạn thảo dự kiến chỉnh lý nội dung này theo hướng đạt từ 50% trở lên.
Theo đại biểu, đây không đơn thuần là chỉ tiêu về số lượng mà còn là công cụ tạo áp lực tích cực để các cơ quan tiến hành tố tụng nỗ lực giải quyết đơn, bảo đảm yêu cầu của công dân được xem xét kịp thời, nhất là những trường hợp sắp hết thời hạn kháng nghị.
Việc giải quyết đơn đúng thời hạn, đúng căn cứ và đúng quy định pháp luật không chỉ là yêu cầu đối với hoạt động của Tòa án mà còn liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Đây là một trong những phương thức để người dân thực hiện quyền yêu cầu xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trong những trường hợp luật định.
Tuy nhiên, đại biểu đề nghị Ban soạn thảo làm rõ cách tính tỷ lệ 60%, nhất là việc xác định số đơn thuộc trách nhiệm giải quyết trong kỳ, qua đó bảo đảm chỉ tiêu phản ánh đúng thực chất công việc.
“Điều quan trọng là những đơn được giải quyết phải đúng thời hạn, đúng căn cứ, đúng pháp luật; không để xảy ra tình trạng chạy theo tỷ lệ mà ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết”, ĐB Siu Hương nhấn mạnh.
Theo đại biểu, tiến độ giải quyết phải được đặt trong mối quan hệ với yêu cầu về chất lượng, căn cứ pháp luật; đồng thời hạn chế thấp nhất tình trạng trả lời đơn không có căn cứ nhưng sau đó lại phát sinh kháng nghị.
Đại biểu cho rằng đây tưởng như là vấn đề kỹ thuật nhưng thực tế rất quan trọng. Nếu cách tính không thống nhất thì cùng một chỉ tiêu nhưng mỗi nơi có thể báo cáo một cách khác nhau, gây khó khăn cho Quốc hội trong quá trình giám sát và đánh giá thực chất kết quả thực hiện.
Đối với điểm a khoản 1 Điều 5 và điểm a khoản 2 Điều 5, ĐB Siu Hương thống nhất lựa chọn phương án 1 đối với 2 nội dung, theo đó không để xảy ra trường hợp do thiếu trách nhiệm của cơ sở giam giữ dẫn đến người bị tạm giữ, người bị tạm giam, phạm nhân trốn khỏi cơ sở giam giữ; đồng thời phải bắt lại 100% số người bỏ trốn.
Đại biểu đánh giá đây là phương án phù hợp với yêu cầu quản lý cũng như trách nhiệm pháp lý đã được pháp luật quy định. Các quy định của Bộ luật Hình sự và pháp luật về thi hành án hình sự là cơ sở để cụ thể hóa trách nhiệm trong quản lý người bị bắt, tạm giữ, tạm giam và người đang chấp hành án phạt tù.
Theo ĐB Siu Hương, đây là cơ sở quan trọng để khẳng định phương án 1 không đặt ra một yêu cầu tuyệt đối mà là cụ thể hóa trách nhiệm đã được pháp luật xác định.
Tuy nhiên, đại biểu đề nghị cần phân định rõ hai vấn đề. Thứ nhất, trách nhiệm của cơ sở giam giữ là quản lý chặt chẽ, không để xảy ra trường hợp bỏ trốn do thiếu trách nhiệm. Thứ hai, khi xảy ra bỏ trốn, cơ quan chức năng phải tổ chức truy bắt, bắt lại và làm rõ trách nhiệm của những người có liên quan.
Đối với người bỏ trốn, đại biểu cho rằng yêu cầu bắt lại 100% là cần thiết nhằm loại bỏ nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bởi người bỏ trốn có thể tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới.
Vì vậy, đại biểu đề nghị giữ phương án 1, song việc tổ chức thực hiện cần được đánh giá theo hai bước: phòng ngừa, không để xảy ra bỏ trốn do nguyên nhân chủ quan; và khi xảy ra thì phải tổ chức truy bắt, bắt lại, đồng thời làm rõ trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan liên quan.
ĐB Siu Hương cũng đề nghị báo cáo gửi Quốc hội hằng năm không chỉ thống kê số trường hợp bỏ trốn, số người đã được bắt lại mà cần làm rõ nguyên nhân của từng vụ việc và trách nhiệm thuộc về đâu.
“Mục tiêu cuối cùng của công tác này không chỉ là bắt lại người bỏ trốn mà quan trọng hơn là quản lý chặt chẽ, bảo đảm an toàn, không để xảy ra vi phạm do những nguyên nhân chủ quan”, ĐB Siu Hương nêu rõ.
Nội dung thứ ba được ĐB Siu Hương đề nghị làm rõ là cách đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu của Nghị quyết và cơ chế giám sát nhằm bảo đảm các chỉ tiêu phản ánh đúng hiệu quả công tác trên thực tế.
Theo đại biểu, đây là vấn đề cần đặc biệt lưu ý bởi dự thảo Nghị quyết sử dụng nhiều chỉ tiêu định lượng như tỷ lệ giải quyết vụ án, tỷ lệ giải quyết nguồn tin về tội phạm, tỷ lệ kháng nghị được chấp nhận, tỷ lệ thu hồi tiền, tài sản...
Việc lượng hóa các chỉ tiêu là cần thiết để tạo cơ sở đánh giá, giám sát. Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào một tỷ lệ đơn lẻ để đánh giá kết quả thì có thể chưa phản ánh đầy đủ chất lượng hoạt động tư pháp.
Đại biểu dẫn chứng, một đơn vị có thể đạt tỷ lệ giải quyết vụ án rất cao nhưng nếu đồng thời số vụ án bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan tăng thì không thể đánh giá chất lượng xét xử đã được nâng lên. Tương tự, việc giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm đạt chỉ tiêu nhưng nếu chất lượng xét xử, giải quyết đơn chưa tốt, dẫn đến phát sinh kháng nghị thì cũng cần được xem xét một cách đầy đủ.

Quang cảnh phiên thảo luận tại hội trường chiều 11-8. Ảnh: quochoi.vn
Tiếp tục hoàn thiện các chỉ tiêu trong dự thảo Nghị quyết
Thay mặt Ban soạn thảo, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu tiếp thu và giải trình một số nội dung đại biểu Quốc hội quan tâm tại phiên thảo luận về dự án Nghị quyết của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và công tác thi hành án.
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội cho biết Ban soạn thảo sẽ tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng, đầy đủ để báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội phương án tiếp thu, chỉnh lý dự thảo. Đối với những nội dung không tiếp thu, Ban soạn thảo sẽ giải trình cụ thể, thấu đáo.
Về ý kiến liên quan đến chỉ tiêu định lượng và định tính, ông Phan Chí Hiếu cho biết nhiều đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát, lượng hóa các chỉ tiêu trong dự thảo; trong khi một số ý kiến đề nghị chuyển một số chỉ tiêu định lượng sang định tính.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu phát biểu giải trình, tiếp thu các ý kiến của đại biểu Quốc hội. Ảnh: quochoi.vn
Theo ông, dự thảo Nghị quyết đã giảm đáng kể số lượng chỉ tiêu định tính so với Nghị quyết số 96/2019/QH14. Ban soạn thảo sẽ tiếp tục nghiên cứu theo hướng lượng hóa các chỉ tiêu ở mức phù hợp hoặc chuyển một số chỉ tiêu định lượng sang định tính, bảo đảm phù hợp với tính chất của một văn bản quy phạm pháp luật.
Theo đó, dự thảo sẽ hạn chế những cụm từ mang tính chung chung như “tiếp tục”, “tăng cường”, “đẩy mạnh”, “nâng cao”, “phấn đấu”, thay vào đó là những yêu cầu, chỉ tiêu cụ thể, có thể đánh giá và giám sát.
Liên quan đến chỉ tiêu về giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cho biết Ban soạn thảo sẽ tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng.
Theo ông, cần tính đến những đặc thù và thay đổi trong mô hình tổ chức của Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân thời gian qua, trong đó nhiều vụ việc được tập trung giải quyết tại Tòa án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
Bên cạnh đó, theo quy định của pháp luật tố tụng, nhiều vụ việc dù đã được giải quyết nhưng vẫn phát sinh đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, tạo áp lực lớn đối với Tòa án trong việc tiếp nhận, xem xét và giải quyết.
“Chúng tôi sẽ nghiên cứu phương án để báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định chỉ tiêu này phù hợp với thực tiễn”, ông Phan Chí Hiếu nói.
Về tỷ lệ giải quyết, xét xử các loại án, vụ việc, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cho biết ý kiến của đại biểu Quốc hội còn có sự khác nhau. Ban soạn thảo sẽ tiếp tục nghiên cứu, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội để có phương án phù hợp.












