Không để thiếu sách giáo khoa: Bài học và giải pháp - Kỳ 3: Từ xử lý khẩn đến giải pháp dài hạn
Từ chỉ đạo quyết liệt của Bộ Giáo dục và Đào tạo đến nỗ lực bảo đảm nguồn sách của nhà xuất bản, bài toán đặt ra là xây dựng cơ chế cung ứng sách giáo khoa chủ động.
Nguồn cung sách giáo khoa năm học 2026-2027 đã được chuẩn bị với quy mô lớn. Tính đến ngày 15/8, hơn 220 triệu bản sách giáo khoa đã được đưa ra thị trường, sản lượng bằng 148% cùng kỳ năm trước. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam tiếp tục tổ chức in bổ sung khoảng 9 triệu bản và điều chuyển khoảng 8 triệu bản sách giáo khoa giữa các vùng nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế.
Những con số trên cho thấy, năng lực sản xuất đã được huy động mạnh, song thực tế mùa tựu trường cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác dự báo và phân phối. Khi nhu cầu có thể biến động do thay đổi quy mô trường lớp, chính sách hỗ trợ của địa phương hay phương thức mua sách, tổng nguồn cung lớn chưa đồng nghĩa mọi đầu sách đều có mặt đúng nơi, đúng thời điểm.

Bảo đảm sách giáo khoa cho học sinh là một chuỗi trách nhiệm cần sự phối hợp đồng bộ.
Đáng chú ý, trước những nhu cầu phát sinh, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã khẩn trương chỉ đạo các địa phương và Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam rà soát, phối hợp xử lý. Theo đó, trước ngày 25/8, các sở giáo dục và đào tạo phải tổng hợp nhu cầu sách giáo khoa cần bổ sung của từng trường gửi Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Trước ngày 26/8, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam báo cáo kết quả tổng hợp tình hình về Bộ; việc phối hợp cung ứng phải bảo đảm hoàn thành trước ngày 30/8.
Ba mốc thời gian liên tiếp cho thấy, yêu cầu điều hành khẩn trương trước thềm năm học mới. Quan trọng hơn, cách xử lý đang hình thành một chu trình tương đối rõ: nhà trường rà soát nhu cầu thực tế, địa phương tổng hợp, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam tổ chức cung ứng và điều chuyển, Bộ Giáo dục và Đào tạo theo dõi và chỉ đạo. Nếu quy trình này được chuẩn hóa và triển khai sớm hơn trong những năm tiếp theo, công tác cung ứng sách giáo khoa có thể chuyển dần từ xử lý nhu cầu phát sinh sang chủ động dự báo.
Để dữ liệu đi trước, nguồn sách chủ động theo nhu cầu
Từ thực tế năm học 2026-2027, một trong những giải pháp cần được nghiên cứu là xây dựng lịch rà soát nhu cầu sách giáo khoa đủ sớm trước mỗi năm học. Theo hướng này, danh mục sách sử dụng, số học sinh theo từng khối lớp và nhu cầu dự kiến cần được xác định theo các mốc phù hợp, tạo cơ sở để đơn vị xuất bản xây dựng kế hoạch sản xuất, dự phòng và phân phối.
Thực tế, việc đấu thầu in sách giáo khoa và việc in, hoàn thiện sách giáo khoa cần thời gian tối thiểu là 190 ngày (khoảng 6,5-7 tháng). Vì vậy, các mốc cụ thể như sau: hoàn thành danh mục trước 30/9/2026 (cho năm học 2027-2028). Dự báo số lượng học sinh trước 15/10/2026 và xây dựng số lượng kế hoach (dự báo) theo từng đầu sách trước 30/10/2026.
Điều này cũng được quy định trong tại Khoản 3, Điều 33, Nghị định 271/2026/NĐ-CP ngày 03/7/2026 về việc Quy định miễn phí sách giáo khoa giáo dục phổ thông và miễn học phí, giáo trình môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh tại cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp.
Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố có trách nhiệm: “Phê duyệt kế hoạch dự báo nhu cầu sách giáo khoa hằng năm trước ngày 30 tháng 10 để làm căn cứ lập dự toán; bảo đảm sách giáo khoa được nhập kho thư viện các cơ sở giáo dục chậm nhất vào ngày 15 tháng 6 hằng năm”.
Như vậy, nếu thực hiện cung cấp sách giáo khoa miễn phí cho học sinh năm học 2027-2028 thì chậm nhất 30/10/2026, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố phải phê duyệt kế hoạch dự báo nhu cầu làm căn cứ lập dự toán, bảo đảm sách giáo khoa được nhập kho thư viện các cơ sở giáo dục chậm nhất vào ngày 15/6/2027. Trước ngày 30/10 hằng năm (theo Nghị định 271/2026/NĐ-CP) các địa phương phê duyệt kế hoạch dự báo nhu cầu sử dụng sách giáo khoa để cung cấp miễn phí, làm cơ sở để lập dự toán. Thông báo kế hoạch nhu cầu sách giáo khoa về Bộ Giáo dục và Đào tạo, thông tin để Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam lập kế hoạch in, phát hành.
Cơ sở để thực hiện cách tiếp cận này đã từng bước hình thành. Ngành giáo dục đang quản lý dữ liệu của hàng chục triệu học sinh và hàng chục nghìn cơ sở giáo dục. Nếu được khai thác phù hợp, dữ liệu về số học sinh, khối lớp, trường mới thành lập hay những thay đổi quy mô sau sắp xếp có thể trở thành nguồn tham chiếu quan trọng bên cạnh đơn đăng ký mua sách. Qua đó, những trường hợp số lượng đăng ký thấp bất thường so với quy mô học sinh có thể được phát hiện sớm, thay vì chờ đến sát năm học mới mới xác định nhu cầu phát sinh.
Cùng với dữ liệu học sinh, chính sách hỗ trợ sách giáo khoa của địa phương cũng cần được kết nối sớm hơn với kế hoạch nguồn hàng. Việc nhiều địa phương dành ngân sách hỗ trợ hoặc cấp sách giáo khoa cho học sinh là chính sách có ý nghĩa thiết thực, góp phần giảm gánh nặng chi phí học tập cho các gia đình. Tuy nhiên, dưới góc độ cung ứng, khi phương thức từ phụ huynh tự mua chuyển sang địa phương tổ chức mua bằng ngân sách, dòng cầu trên thị trường cũng thay đổi. Vì vậy, phạm vi hỗ trợ, số học sinh thụ hưởng và phương thức cấp sách nếu được xác định sớm sẽ giúp ngành giáo dục và Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chủ động hơn trong chuẩn bị nguồn hàng.
Một vấn đề khác cần tính tới là lượng sách dự phòng. Thực tế cho thấy tổng nguồn cung lớn nhưng nếu thiếu một vài đầu sách cụ thể, học sinh vẫn chưa thể có một bộ sách hoàn chỉnh. Vì vậy, thay vì chỉ tính dự phòng theo tổng số bản, có thể nghiên cứu cơ cấu dự phòng theo từng đầu sách và từng khu vực trên cơ sở dữ liệu tiêu thụ của nhiều năm. Mức dự phòng cần được tính toán hợp lý, bởi quá thấp sẽ khó xử lý biến động, trong khi quá cao lại làm tăng tồn kho và chi phí.
Khả năng điều chuyển khoảng 8 triệu bản sách giáo khoa giữa các vùng trong mùa tựu trường năm nay cho thấy, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam và hệ thống phát hành đã có năng lực phản ứng trước biến động cung - cầu. Khi năng lực này được kết hợp với dữ liệu cập nhật sớm từ nhà trường và địa phương, hoạt động điều phối có thể tiến thêm một bước: không chỉ chuyển sách sau khi phát hiện thiếu mà chủ động nhận diện địa bàn có nguy cơ thiếu để đưa nguồn hàng tới trước.
Đây cũng là hướng tiếp nối tinh thần chỉ đạo mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo khi yêu cầu cập nhật nhu cầu đến từng trường, từng lớp, từng môn, từng đầu sách; đồng thời thực hiện điều chuyển theo nguyên tắc “nơi thừa hỗ trợ nơi thiếu”. Từ một giải pháp được triển khai khẩn trương trước năm học mới, cơ chế này có thể trở thành kinh nghiệm quan trọng để nâng cao hiệu quả dự báo và phân bổ sách giáo khoa trong những năm tiếp theo.
Phát huy sách dùng chung, bảo vệ thị trường chính thống
Bên cạnh việc nâng chất lượng dự báo, một nguồn lực khác cần được phát huy là sách giáo khoa tại thư viện và những cuốn sách cũ còn khả năng sử dụng. Trong chỉ đạo mới, Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các cơ sở giáo dục khai thác hiệu quả nguồn sách này, đồng thời thực hiện đầy đủ chính sách hỗ trợ, cấp và cho mượn sách giáo khoa đối với học sinh. Đây là giải pháp thiết thực trong ngắn hạn, nhất là đối với học sinh có hoàn cảnh khó khăn hoặc những trường phát sinh nhu cầu ngoài kế hoạch.
Về lâu dài, các địa phương có thể tiếp tục tổng kết, đánh giá hiệu quả mô hình tủ sách dùng chung và cho mượn sách giáo khoa theo năm học. Kinh nghiệm quốc tế được phân tích ở kỳ trước cho thấy việc kéo dài vòng đời của sách có thể giảm áp lực mua mới và tạo thêm nguồn dự phòng tại trường học. Tuy nhiên, hiệu quả của mô hình phụ thuộc lớn vào tính ổn định của sách giáo khoa, khả năng bảo quản, tỷ lệ tái sử dụng cũng như chi phí tổ chức. Do đó, cần triển khai trên cơ sở đánh giá thực tế, tránh áp dụng đại trà một cách cơ học.
Cùng với bảo đảm nguồn sách, việc giữ thị trường sách giáo khoa minh bạch, ổn định cũng là một mắt xích quan trọng. Theo dữ liệu của tuyến bài, giá sách giáo khoa năm học 2026-2027 giảm bình quân 13,3%. Để lợi ích từ chính sách giá thực sự đến với người tiêu dùng, phụ huynh cần có khả năng tiếp cận thuận tiện với thông tin về giá, danh mục sách và các điểm bán chính thống.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã yêu cầu Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam công khai, cập nhật địa điểm bán và cung ứng chính thức, đầu mối liên hệ, phương thức và thời gian cung ứng; đồng thời tăng cường thông tin để học sinh, phụ huynh tránh mua sách không đúng danh mục hoặc không rõ nguồn gốc. Yêu cầu này không chỉ góp phần đưa sách tới người học thuận lợi hơn mà còn tạo điều kiện để thị trường sách giáo khoa vận hành minh bạch, hạn chế khoảng trống cho hàng giả, sách in lậu hoặc các kênh phân phối không rõ nguồn gốc.
Ở góc độ ngành Công Thương, đây cũng là lĩnh vực cần tăng cường phối hợp trong mùa cao điểm. Công tác quản lý thị trường có thể tập trung kiểm tra việc chấp hành quy định về giá, nguồn gốc hàng hóa, sách giả, sách in lậu cũng như hoạt động kinh doanh sách giáo khoa trên các nền tảng thương mại điện tử. Khi giá từng đầu sách và hệ thống phân phối chính thức được công khai, người tiêu dùng có thêm căn cứ lựa chọn, lực lượng chức năng thuận lợi hơn trong kiểm tra, đồng thời quyền lợi của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, các đơn vị phát hành và nhà sách hoạt động đúng quy định cũng được bảo vệ.
Nhìn rộng hơn, bảo đảm sách giáo khoa cho học sinh là một chuỗi trách nhiệm cần sự phối hợp đồng bộ. Bộ Giáo dục và Đào tạo giữ vai trò chỉ đạo, điều phối và hoàn thiện cơ chế; các địa phương nắm sát nhu cầu thực tế và tổ chức chính sách hỗ trợ; Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cùng hệ thống phát hành bảo đảm sản xuất, dự phòng và điều chuyển nguồn sách; nhà trường phát huy nguồn sách thư viện, sách còn sử dụng được. Cùng với đó, ngành Công Thương góp phần bảo đảm môi trường lưu thông minh bạch, bảo vệ thị trường và quyền lợi người tiêu dùng. Khi các mắt xích vận hành trên cùng một hệ thống thông tin và theo những mốc thời gian thống nhất, hiệu quả cung ứng sẽ được nâng lên đáng kể.
Điều đáng suy nghĩ nhất sau mùa tựu trường này không phải chuyện phụ huynh phải đi vài nơi mới mua đủ sách mà là chúng ta đang có một hệ thống dữ liệu giáo dục thuộc loại hiện đại trong khu vực, có năng lực in ấn đủ mạnh, có ngân sách địa phương sẵn sàng chi cho học sinh, nhưng chưa dùng hết những thứ ấy để phòng ngừa.
