Không thử nghiệm lại nội dung đã có kết quả hợp lệ được thừa nhận

Phát biểu tại hội trường sáng 26/10 về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú (Nghệ An) đề nghị, quy định rõ điều kiện thừa nhận kết quả thử nghiệm, chứng chỉ và kết quả đánh giá mẫu của tổ chức nước ngoài; không thử nghiệm lại những nội dung đã được chứng minh bằng kết quả hợp lệ được thừa nhận, tránh làm tăng chi phí và kéo dài thời gian đưa công nghệ mới vào sử dụng.

Quy định rõ điều kiện thừa nhận kết quả thử nghiệm quốc tế

Đánh giá cao việc dự thảo Luật đã tiếp thu nhiều ý kiến của ĐBQH, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú cho rằng, dự thảo đã làm rõ tính tự nguyện của Chương trình bảo đảm đo lường; bổ sung phương thức quản lý theo rủi ro; hoàn thiện quy định về tổ chức kiểm định; tăng quyền tiếp cận dữ liệu của người tiêu dùng và xác định rõ Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối quốc gia về đo lường.

ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú (Nghệ An) phát biểu. Ảnh: Hồ Long

ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú (Nghệ An) phát biểu. Ảnh: Hồ Long

Góp ý về việc thừa nhận kết quả thử nghiệm và phê duyệt mẫu quốc tế tại khoản 9 Điều 5 và Điều 20, đại biểu đồng tình với quy định khuyến khích ký kết điều ước, thỏa thuận và thừa nhận kết quả phép đo, kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm, phê duyệt mẫu. Tuy nhiên, theo đại biểu, vấn đề đặt ra không còn là thiếu chính sách mà là hiệu lực thực thi.

Đại biểu phân tích, Điều 5 quy định về chính sách, trong khi Điều 20 trực tiếp điều chỉnh hoạt động phê duyệt mẫu vẫn chỉ quy định việc “có thể miễn, giảm thử nghiệm” và giao Bộ trưởng quy định cụ thể.

Theo báo cáo giải trình được đại biểu dẫn lại, mỗi năm có hơn 3.000 mẫu phương tiện đo nhập khẩu phải phê duyệt mẫu. Nếu một thiết bị đã được thử nghiệm tại tổ chức quốc tế có năng lực, có chứng chỉ hợp lệ nhưng khi nhập khẩu vào Việt Nam vẫn phải xem xét từng trường hợp hoặc thử nghiệm lại những nội dung đã được chứng minh thì sẽ làm tăng chi phí, kéo dài thời gian đưa công nghệ mới vào sử dụng. Nếu Luật không quy định tiêu chí tối thiểu để thừa nhận, nguy cơ duy trì cơ chế xem xét từng trường hợp vẫn có thể xảy ra.

ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú dẫn chứng, Hệ thống chứng nhận của Tổ chức Đo lường Pháp định Quốc tế (OIML-CS) được xây dựng nhằm hạn chế thử nghiệm lặp lại, tạo điều kiện để các quốc gia sử dụng kết quả đánh giá mẫu của nhau. Hiệp định về Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng khuyến khích chấp nhận kết quả đánh giá sự phù hợp của nước khác khi bảo đảm mức độ tương đương.

Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An dự phiên thảo luận tại Hội trường. Ảnh: Khánh Duy

Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An dự phiên thảo luận tại Hội trường. Ảnh: Khánh Duy

Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung một khoản tại Điều 20, quy định kết quả thử nghiệm, chứng chỉ hoặc kết quả đánh giá mẫu của tổ chức nước ngoài được xem xét thừa nhận khi tổ chức thực hiện có năng lực phù hợp, yêu cầu kỹ thuật tương đương và kết quả thuộc điều ước quốc tế, thỏa thuận thừa nhận hoặc hệ thống chứng nhận quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc chấp nhận.

Đồng thời, cần xác định rõ nguyên tắc không thử nghiệm lại những nội dung đã được chứng minh bằng kết quả hợp lệ được thừa nhận.

Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng từ dữ liệu đo lường đến hoàn trả khoản thu vượt

Liên quan đến khoản 1 Điều 34c, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú đề nghị tiếp tục rà soát để bảo đảm thống nhất với Luật Giao dịch điện tử.

Theo đại biểu, dự thảo quy định “chứng thư điện tử có giá trị pháp lý như văn bản giấy”, trong khi pháp luật về giao dịch điện tử đã quy định giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu dựa trên các điều kiện về khả năng truy cập, tính toàn vẹn, giá trị bản gốc và giá trị chứng cứ. Vì vậy, không cần thiết thiết lập thêm một cơ chế riêng trong Luật Đo lường.

Các ĐBQH dự phiên thảo luận tại Hội trường. Ảnh: Khánh Duy

Các ĐBQH dự phiên thảo luận tại Hội trường. Ảnh: Khánh Duy

Đại biểu đánh giá, khoản 2 Điều 34c đã xử lý tốt vấn đề chứng cứ, bao gồm xác định nguồn, thời điểm, tính xác thực, tính toàn vẹn, khả năng kiểm tra lại và quyền giải trình.

Để bảo đảm đồng bộ, đại biểu đề nghị quy định kết quả đo có thể được phát hành dưới dạng thông điệp dữ liệu, bao gồm chứng thư điện tử; việc xác thực, xác định giá trị như văn bản, giá trị bản gốc và giá trị chứng cứ được thực hiện theo pháp luật về giao dịch điện tử.

Đối với quyền tiếp cận dữ liệu đo lường của người tiêu dùng, đại biểu cho rằng, dự thảo hiện mới quy định quyền yêu cầu tổ chức cung cấp dịch vụ thiết yếu cung cấp, trích xuất dữ liệu đo liên quan trực tiếp đến giao dịch để phục vụ khiếu nại, giải quyết tranh chấp và bồi thường.

Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều giao dịch không nhất thiết thuộc nhóm dịch vụ thiết yếu nhưng số tiền thanh toán lại được xác định trực tiếp từ kết quả đo, như sạc xe điện, dịch vụ logistics tính theo khối lượng, một số dịch vụ chia sẻ phương tiện, nhiên liệu hoặc năng lượng.

Vì vậy, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú đề nghị quy định quyền tiếp cận dữ liệu theo bản chất giao dịch. Theo đó, người tiêu dùng có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp hàng hóa, dịch vụ mà giá hoặc số tiền thanh toán được xác định trực tiếp từ kết quả đo cung cấp, trích xuất dữ liệu đo lường liên quan trực tiếp đến giao dịch của mình. Cách quy định này sẽ phù hợp hơn với sự phát triển của kinh tế số.

Góp ý về Điều 52, đại biểu đề nghị rà soát quy định công khai thông tin vi phạm trong hoạt động đo lường để tránh chồng chéo với pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Đại biểu chỉ rõ, khoản 5 Điều 52 giao Chính phủ quy định việc công khai thông tin tổ chức, cá nhân vi phạm trên nền tảng số hoạt động đo lường nhưng chưa xác định điều kiện áp dụng ngay trong Luật. Trong khi đó, Điều 72 Luật Xử lý vi phạm hành chính đã quy định việc công khai đối với vi phạm trong lĩnh vực đo lường khi gây hậu quả lớn hoặc gây ảnh hưởng xấu đến dư luận xã hội, đồng thời quy định nội dung và hình thức công bố.

Theo đại biểu, nếu tiếp tục thiết lập thêm cơ chế công khai riêng, có thể phát sinh tình trạng cùng một hành vi vi phạm nhưng tồn tại hai căn cứ và hai cách công khai.

Do đó, đại biểu đề nghị việc công khai quyết định xử phạt vi phạm hành chính về đo lường được thực hiện theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Thông tin được công khai hợp pháp cần được kết nối, đồng bộ trên nền tảng số hoạt động đo lường để cảnh báo và bảo vệ người tiêu dùng.

Đối với việc hoàn trả khoản thu vượt, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú cho rằng, dự thảo hiện mới dẫn chiếu trách nhiệm bồi thường sang pháp luật dân sự và pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chưa quy định nghĩa vụ hoàn trả riêng. Báo cáo số 311 của Bộ Khoa học và Công nghệ cũng xác nhận nội dung này chưa được thiết kế trong dự thảo.

Theo đại biểu, lĩnh vực đo lường có đặc thù là sai số có thể rất nhỏ trong từng giao dịch nhưng khi lặp lại với hàng nghìn, hàng triệu người tiêu dùng thì tổng số tiền thu vượt có thể rất lớn. Trong khi đó, nếu mỗi người chỉ bị thu vượt vài nghìn đồng mà phải tự khiếu kiện thì việc bảo vệ quyền lợi trên thực tế sẽ rất khó khăn.

Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 52 nguyên tắc: trường hợp xác định được số tiền người tiêu dùng đã thanh toán vượt do vi phạm pháp luật về đo lường thì tổ chức, cá nhân kinh doanh có trách nhiệm hoàn trả khoản thu vượt; việc bồi thường thiệt hại khác thực hiện theo pháp luật dân sự và pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Diệp Anh

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/khong-thu-nghiem-lai-noi-dung-da-co-ket-qua-hop-le-duoc-thua-nhan-10440500.html