Không trực tiếp sản xuất, có được thừa kế đất nông nghiệp?

Ðất nông nghiệp bao gồm: đất trồng cây hàng năm (đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác), đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp (đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất), đất nuôi trồng thủy sản…

Theo quy định pháp luật, người không trực tiếp sản xuất vẫn được thừa kế đất trồng lúa. Ảnh minh họa: Đoàn Phú

Theo quy định pháp luật, người không trực tiếp sản xuất vẫn được thừa kế đất trồng lúa. Ảnh minh họa: Đoàn Phú

Pháp luật về dân sự, đất đai cho phép cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp vẫn được hưởng thừa kế là đất nông nghiệp do cha mẹ để lại. Tuy nhiên, việc phân chia quyền thừa kế phải tuân thủ quy định về điều kiện tách thửa.

Khi người nhận thừa kế không phải nông dân

Ông Lưu Văn Vĩnh (ở xã Bù Gia Mập) cho biết: Trong quá trình về địa phương lập nghiệp, vợ chồng tôi khai phá và nhận chuyển nhượng từ một nông dân khác 2ha đất nông nghiệp, gồm 1,5ha đất trồng cây lâu năm và 0,5ha đất ruộng, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ - sổ đỏ). Vợ chồng ông có 3 người con, trong đó có 1 người con đang làm công nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh và đã có gia đình, nhà cửa riêng. Nay vợ chồng ông muốn làm di chúc phân chia phần đất nêu trên cho các con như sau: 2 người con hiện đang làm nông nghiệp tại địa phương, mỗi người 0,75ha đất trồng cây lâu năm; người con ở Thành phố Hồ Chí Minh được chia 0,5ha đất ruộng.

Tuy nhiên, khi làm di chúc, vợ chồng ông Vĩnh vẫn băn khoăn nếu không làm nông nghiệp như con trai ông ở Thành phố Hồ Chí Minh thì pháp luật có cho phép nhận thừa kế đất trồng lúa hay chỉ được nhận thừa kế đất trồng cây lâu năm?

Mặc dù là người được thừa kế của cha mẹ thuộc hàng thừa kế thứ nhất nhưng ông Lâm Văn Hành (ở xã Nha Bích) vẫn không biết xử lý ra sao khi 0,8ha đất trồng cây lâu năm của cha mẹ ông khai phá (đã có sổ đỏ) phải chia nhỏ ra cho 4 người con, mỗi người 0,2ha. Trong số 4 anh, chị, em của ông Hành có người làm nông nghiệp, có người buôn bán. Vì vậy, ông muốn biết những người không làm nông nghiệp khi chia tài sản của cha mẹ có được nhận đất không, hay là phải bán đất để chia?...

Thừa kế đất nông nghiệp

Luật sư Nguyễn Đức, Đoàn Luật sư thành phố Đồng Nai cho biết: Đất nông nghiệp cũng là tài sản, nên người đang có QSDĐ được quyền để lại thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Điều này đã được Luật Đất đai năm 2024 quy định, người sử dụng đất được thực hiện QSDĐ theo quy định của Luật Đất đai năm 2024 và luật khác có liên quan (khoản 1, Điều 27). Cá nhân sử dụng đất có quyền thừa kế QSDĐ, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật (điểm đ, khoản 1, Điều 37).

Tuy vậy, việc để lại thừa kế là QSDĐ nông nghiệp thì cá nhân phải tuân thủ các điều kiện sau: Đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bản án, quyết định của tòa án, quyết định hoặc phán quyết của trọng tài đã có hiệu lực pháp luật; QSDĐ không bị kê biên, áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự; đang trong thời hạn sử dụng đất; QSDĐ không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật; trường hợp nhận thừa kế QSDĐ thì người nhận thừa kế được thực hiện quyền khi có giấy chứng nhận QSDĐ hoặc đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Văn bản về thừa kế QSDĐ được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về Bộ luật Dân sự năm 2015 (khoản 1 và khoản 4, Điều 45).

Đồng thời tại khoản 3, Điều 48 Luật Đất đai năm 2024 cũng quy định: Cá nhân là người dân tộc thiểu số được Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo chính sách hỗ trợ đất đai để bảo đảm ổn định cuộc sống cho cá nhân là người dân tộc thiểu số không được thừa kế, trừ trường hợp thừa kế QSDĐ cho người thuộc hàng thừa kế là đối tượng người dân tộc thiểu số thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo và người dân tộc thiểu số đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nay không còn đất hoặc thiếu đất so với hạn mức mà thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (khoản 3, Điều 48)…

Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng có quy định, người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết (Điều 613). Những trường hợp không được quyền hưởng di sản như: Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản (khoản 1, Điều 621)…

Luật sư Nguyễn Đức chia sẻ: Căn cứ vào những quy định nêu trên, vợ chồng ông Lưu Văn Vĩnh có quyền được lập di chúc để lại di sản là 2ha đất trồng cây lâu năm và đất ruộng cho các con theo ý chí của ông bà. Bởi vì pháp luật không cấm việc lập di chúc, hay hạn chế việc nhận di sản là đất trồng lúa của người con không làm nông nghiệp của vợ chồng ông. Trường hợp của ông Lâm Văn Hành thì vẫn chia được bằng đất, mỗi người 0,2ha.

Người không trực tiếp sản xuất nông nghiệp, thậm chí không biết làm nông nghiệp vẫn được nhận thừa kế đất nông nghiệp, kể cả đất trồng lúa, nhưng sau đó phải đưa đất vào sử dụng đúng mục đích. Nếu không đưa đất vào sử dụng trong thời gian 12 tháng liên tục đối với đất trồng cây hàng năm, hoặc trong 18 tháng liên tục đối với đất trồng cây lâu năm và đã bị xử phạt vi phạm hành chính vẫn không đưa đất vào sử dụng thì bị thu hồi đất.

Luật sư Nguyễn Ðức, Ðoàn Luật sư thành phố Ðồng Nai

Ðoàn Phú

Nguồn Đồng Nai: https://baodongnai.com.vn/ban-doc/202605/khong-truc-tiep-san-xuat-co-duoc-thua-ke-dat-nong-nghiep-0200415/