Khu công nghiệp tuần hoàn: Gỡ nút thắt từ dòng nước, dữ liệu đến vốn xanh
Từ tiết kiệm nước, năng lượng trong từng nhà máy đến kết nối phụ phẩm giữa các doanh nghiệp, kinh tế tuần hoàn mở ra dư địa giảm chi phí và nâng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Tại hội thảo "Giải pháp triển khai kinh tế tuần hoàn trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các khu công nghiệp TP.HCM", do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP.HCM tổ chức ngày 1/10, các chuyên gia nhấn mạnh: Để chuyển từ ý tưởng sang mô hình vận hành được, khu công nghiệp cần làm đầu mối kết nối, còn chính sách phải giúp doanh nghiệp tiếp cận vốn, công nghệ và dữ liệu đáng tin cậy.
Tuần hoàn nước cần bắt đầu từ nhu cầu thực tế
Hội thảo đã thu hút 24 tham luận từ các chuyên gia, nhà khoa học cùng hướng tới một câu hỏi thực tế: làm thế nào để doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chuyển đổi mà không phải gánh ngay khoản đầu tư quá lớn, trong khi vẫn tạo ra hiệu quả có thể nhìn thấy và đo đếm được?

Chuyên gia trình bày tham luận tại Hội thảo "Giải pháp triển khai kinh tế tuần hoàn trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các khu công nghiệp TP.HCM" ngày 1/10.
GS.TS Nguyễn Văn Phước, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP.HCM, nhấn mạnh doanh nghiệp cần biết "bắt đầu từ đâu, cần bao nhiêu nguồn lực" và hiệu quả thu được có đủ rõ để họ quyết định đầu tư hay không. Đây cũng là điểm khởi đầu phù hợp với thực tế của DNNVV: Nguồn vốn, nhân lực chuyên môn và khả năng tiếp cận công nghệ đều có giới hạn.
Theo GS.TS Nguyễn Văn Phước, những bước đi đầu tiên có thể bắt đầu ngay trong hoạt động thường nhật: Kiểm soát hao hụt nguyên liệu, tiết kiệm nước và điện, phân loại phụ phẩm tại nguồn, tái sử dụng bao bì hoặc cải tiến quy trình sản xuất. Khi hiệu quả ban đầu được chứng minh, doanh nghiệp mới có cơ sở và niềm tin để tính đến những dự án đầu tư lớn hơn.
Trong số các dòng tài nguyên có thể tuần hoàn, nước là một điểm khởi đầu có tiềm năng rõ rệt. PGS.TS Phùng Chí Sỹ, Giám đốc Trung tâm Công nghệ Môi trường (ENTEC), nhìn nhận nước thải sau xử lý không chỉ là dòng cần kiểm soát trước khi xả ra môi trường, mà còn có thể trở thành nguồn nước thứ cấp cho sản xuất và các hoạt động trong khu công nghiệp.
PGS.TS Phùng Chí Sỹ đề xuất tổ chức tái sử dụng nước ở nhiều cấp độ ngay trong từng nhà máy; từ hệ thống xử lý nước thải tập trung của khu công nghiệp; và thông qua việc trao đổi nước giữa các doanh nghiệp. Nước sau xử lý có thể phục vụ tưới cây, rửa đường, giải nhiệt, vệ sinh thiết bị hoặc bổ sung cho một số quy trình sản xuất, tùy theo yêu cầu chất lượng.
Nguyên tắc được PGS.TS Phùng Chí Sỹ nhấn mạnh là xử lý nước "phù hợp với mục đích". Nước dùng tưới cây hay rửa đường không nhất thiết phải đạt chất lượng như nước cấp cho nồi hơi, sản xuất điện tử hoặc dược phẩm. Xác định đúng mục đích sử dụng giúp lựa chọn công nghệ phù hợp, kiểm soát được chất lượng đầu ra và tránh đầu tư quá mức cần thiết.
Cần tách riêng các dòng nước theo mức độ ô nhiễm như: Nước mưa sạch, nước làm mát và nước ngưng tụ có thể được lưu giữ, tái sử dụng trực tiếp; nước sinh hoạt và nước rửa được xử lý theo yêu cầu; còn nước thải có tải lượng ô nhiễm cao từ xi mạ, hóa chất hay dệt nhuộm cần quy trình xử lý chuyên biệt. Nếu phân dòng có thể giúp giảm 20 - 40% chi phí xử lý.
Một số giải pháp nâng cao hơn, như màng lọc, công nghệ thẩm thấu ngược hay mô hình gần như không xả thải, có thể phù hợp với cơ sở sử dụng nhiều nước hoặc có yêu cầu chất lượng nước cao. Song để nước tái sinh đi từ trạm xử lý đến dây chuyền sản xuất, khu công nghiệp còn cần bể chứa riêng, mạng lưới đường ống, đồng hồ đo và hệ thống giám sát chất lượng. Đây là phần hạ tầng dùng chung mà từng DNNVV khó tự xây dựng nếu không có sự phối hợp ở cấp khu.
PGS.TS Phùng Chí Sỹ còn đề xuất bộ tiêu chí đánh giá mức độ tuần hoàn nước, bao gồm quản trị, hạ tầng thu gom, hiệu quả xử lý, tỷ lệ và mục đích tái sử dụng, thu hồi tài nguyên, công nghệ và tuân thủ môi trường. Cùng với đó, doanh nghiệp cần kiểm toán nước, nhận diện cơ hội tuần hoàn nội bộ và phối hợp với chủ đầu tư hạ tầng để sử dụng nước tái sinh. Cơ quan quản lý cần sớm hướng dẫn yêu cầu chất lượng nước theo từng mục đích, đồng thời xem xét chính sách tín dụng xanh cho các dự án phù hợp.

Chuyên gia trình bày tham luận tại Hội thảo "Giải pháp triển khai kinh tế tuần hoàn trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các khu công nghiệp TP.HCM" ngày 1/10.
PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Phượng, Viện trưởng Viện Công nghiệp Môi trường thành phố (IEI) cho biết, kinh tế tuần hoàn tại DNNVV có những đặc thù khác so với doanh nghiệp lớn. Dòng nguyên vật liệu, nước, năng lượng và chất thải thường có quy mô nhỏ, phân tán, biến động, khiến một số công nghệ như tái sinh nước, thu hồi nhiệt, tái chế chuyên sâu hoặc xử lý phụ phẩm khó đạt hiệu quả kinh tế nếu doanh nghiệp đầu tư riêng lẻ. Trong khi đó, nguồn vốn, dữ liệu và nhân lực chuyên môn của nhóm doanh nghiệp này còn hạn chế.
Do đó, kinh tế tuần hoàn tại DNNVV không nên được xem là phiên bản thu nhỏ của mô hình dành cho tập đoàn lớn, mà cần triển khai theo hướng các giải pháp mô-đun như giảm tiêu hao, kéo dài vòng đời thiết bị và sản phẩm, tái sử dụng nội bộ, thu hồi phụ phẩm, sử dụng nguyên liệu thứ cấp và liên kết giữa các doanh nghiệp để hình thành quy mô kinh tế phù hợp.
Cần thí điểm khu công nghiệp tuần hoàn trước khi nhân rộng
TS Nguyễn Văn Điển, Trưởng khoa Kinh tế chính trị, Học viện Chính trị Khu vực II đề cập về vai trò của khu công nghiệp sinh thái cần được đánh giá đồng thời trên ba phương diện: Kinh tế, môi trường và năng lực chuyển đổi của doanh nghiệp. Tuy nhiên, quá trình này phụ thuộc đáng kể vào mức độ hoàn thiện chính sách, năng lực điều phối, khả năng tiếp cận tài chính, chất lượng dữ liệu và mức độ hợp tác giữa các doanh nghiệp.
Từ nghiên cứu về mức độ sẵn sàng của Khu công nghiệp Hiệp Phước, TS Điển chỉ ra điểm nghẽn về nguồn lực và năng lực chuyển đổi của DNNVV; khoảng cách giữa hỗ trợ kỹ thuật và quyết định đầu tư; thiếu dữ liệu và cơ chế điều phối cộng sinh công nghiệp; cùng những vướng mắc về thể chế và thủ tục.

Khu công nghiệp Hiệp Phước TP.HCM.
Giải pháp được TS Điển đề xuất là hoàn thiện cơ chế điều phối chuyển đổi khu công nghiệp sinh thái; xây dựng hệ thống dữ liệu dòng vật chất và nền tảng kết nối doanh nghiệp; phát triển các công cụ tài chính xanh phù hợp với DNNVV; thí điểm các dự án tuần hoàn, cộng sinh công nghiệp; đồng thời nâng cao năng lực chuyển đổi và tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp.
Cùng quan điểm, TS Huỳnh Văn Lành, Học viện Chính trị khu vực II, đề xuất xây dựng mô hình thí điểm khu công nghiệp tuần hoàn tại TP.HCM trong giai đoạn 2027-2030. Mô hình gồm 6 hợp phần liên kết: Quản trị và dữ liệu; hiệu quả tài nguyên tại doanh nghiệp; tuần hoàn nước, năng lượng và nhiệt; vật liệu và cộng sinh công nghiệp; tài chính và thị trường; cùng năng lực xã hội và cơ chế nhân rộng.
Lộ trình được ông Lành đề xuất bắt đầu từ việc lập đường cơ sở, bản đồ dòng tài nguyên và danh mục dự án trong năm 2027. Năm 2028 ưu tiên các giải pháp có thể tạo kết quả sớm và những giao dịch cộng sinh đầu tiên. Sang năm 2029, khu công nghiệp mới tính đến các hạ tầng dùng chung hoặc dự án phức tạp hơn khi đã có nhu cầu, khách hàng nền và phương án tài chính. Năm 2030 tập trung đánh giá độc lập, chuẩn hóa mô hình và xác định những hợp phần đủ điều kiện nhân rộng.
ThS Phan Kiều Thanh Hương, Ban Nghiên cứu Phát triển TP.HCM, bổ sung một cấu trúc bốn tầng: doanh nghiệp tuần hoàn; khu công nghiệp sinh thái hoặc tuần hoàn; nền tảng dữ liệu và thị trường nguyên liệu thứ cấp; và Thành phố kiến tạo thể chế, hạ tầng cùng nguồn lực. Mô hình này đặt doanh nghiệp ở trung tâm thực hành, nhưng không để mỗi doanh nghiệp tự xoay xở riêng lẻ. Khu công nghiệp làm nơi kết nối, dữ liệu hỗ trợ ghép cung cầu, còn Thành phố tạo khung điều phối và điều kiện đầu tư.
ThS Phan Kiều Thanh Hương cũng chỉ ra 5 trở ngại chính: Vốn ban đầu và áp lực dòng tiền; quy mô, tính ổn định của phụ phẩm; thiếu dữ liệu có cấu trúc; yêu cầu môi trường từ thị trường xuất khẩu; và chi phí phối hợp giữa nhiều chủ thể. Để giảm chi phí giao dịch, ThS Phan Kiều Thanh Hương đề xuất thí điểm có chọn lọc tại 3–5 khu công nghiệp đại diện cho những nhóm ngành có tiềm năng trao đổi phụ phẩm. Giai đoạn đầu nên ưu tiên các giải pháp ít vốn như thu hồi bao bì, tuần hoàn nước làm mát, phân loại chất thải tại nguồn, tận dụng nhiệt thải và dùng chung dịch vụ vận chuyển.
Với nền tảng số, yêu cầu không dừng ở việc đăng thông tin rao bán phụ phẩm. Mỗi dòng vật chất cần có hồ sơ về khối lượng, đặc tính, tần suất phát sinh, vị trí và trạng thái pháp lý; chất lượng cần được xác thực; việc kết nối cung cầu phải tính đến logistics và phương thức giao dịch. ThS Phan Kiều Thanh Hương cũng đề nghị gắn hỗ trợ tài chính với kết quả có thể kiểm chứng như lượng nước tái sử dụng, năng lượng tiết kiệm, nguyên liệu nguyên sinh được thay thế, chất thải tránh chôn lấp và doanh thu từ phụ phẩm.
Để thực hiện được khu công nghiệp tuần hoàn, không chỉ kêu gọi doanh nghiệp cùng lúc đầu tư công nghệ lớn mà cần giúp họ nhận diện khoản tiết kiệm cụ thể, tiếp cận hỗ trợ kỹ thuật và có nơi để kết nối dòng tài nguyên với đối tác phù hợp. Sau đó, khu công nghiệp và Thành phố mới có thể mở rộng sang hạ tầng dùng chung, tài chính xanh và các giao dịch liên doanh nghiệp.
