Khúc tráng ca của người lính (Bài 2): Khúc hát mở đường
Ở bất cứ thời đại nào, bản lĩnh và cốt cách của người xứ Thanh cũng luôn tỏa sáng. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, phẩm chất ấy được tiếp nối qua hình ảnh những cô gái mở đường, những chiến sĩ giữ mạch xăng xuyên rừng thẳm hay những nghệ sĩ mang lời ca xoa dịu chiến trường. Gửi lại tuổi xuân nơi đại ngàn khắc nghiệt, họ đã cùng nhau dệt nên 'Khúc hát mở đường', thanh âm đầy tự hào, ngân vang mãi trong tâm khảm bao thế hệ.

Bà Lê Thị Thoa và đồng đội thắp hương tại Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn.
Tôi chậm bước qua những con phố phường Hạc Thành tìm gặp bà Lê Thị Thoa, người nữ chiến sĩ mở đường năm xưa. Giai điệu nhạc sĩ Xuân Giao vang khẽ trong tâm trí: “... Ơi biết bao cô gái đang ngày đêm mở đường. Hỏi em bao nhiêu tuổi mà sức em phi thường...”. Khúc hát quen thuộc với nhiều thế hệ nhưng khi đứng trước nhân chứng sống, tôi mới thấu hiểu sức nặng của hai chữ “phi thường”. Đó là sức chịu đựng bền bỉ của những cô gái tuổi đôi mươi, những người mở và giữ đường bằng chính thân mình.
Bà Thoa xuất hiện, xóa tan hình dung của tôi về một cựu binh tóc pha sương. Bà lựa lời rất chậm, khẽ khàng như đang độc thoại với kỷ niệm. Tháng 1/1971, Lê Thị Thoa đang là nữ sinh lớp 10, cái tuổi đẹp nhất với bao dự định. Thế nhưng, tiếng gọi tiền tuyến đã át đi tất thảy. 150 thanh niên Hoằng Hóa năm ấy cùng viết đơn tình nguyện lên đường.
Bà nhớ in buổi sáng chia tay, làng quê rợp cờ hoa nhưng cũng đẫm nước mắt của những người mẹ. Khi ấy, bà chỉ kịp nắm tay mẹ dặn: “Con đi rồi con sẽ về”. Bà không ngờ phía trước là Trường Sơn - nơi sự sống và cái chết đôi khi chỉ cách nhau bằng một tiếng rít máy bay phản lực.
Bà được biên chế vào Đại đội 10, Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 6 thuộc Đoàn 559 lừng lẫy, làm nhiệm vụ mở đường tại khu vực Đường 9 - Nam Lào, sau đó chuyển sang tuyến 16C. Đây là những nhánh huyết mạch nối vào trục vận tải chiến lược đường Hồ Chí Minh. Những năm 1971-1972, tuyến Trường Sơn bị đánh phá ác liệt. Máy bay trinh sát địch lượn lờ suốt ngày đêm, kéo theo những đợt bom trút xuống, biến mặt đường thành hố sâu hun hút, rừng già thành bãi đất cháy sạm mùi lưu huỳnh.
Công việc của nữ công binh không chỉ là cầm súng, mà cùng đồng đội dùng cuốc, xẻng, xà beng phá đá mở đường giữa đại ngàn. Có đoạn vừa làm xong lúc chạng vạng, đêm đã bị bom dội nát. Không nản lòng, bà Thoa và đồng đội lại ra tuyến, bắt đầu lại từ con số không. Sự bền bỉ ấy giữ cho mạch máu giao thông Trường Sơn chưa bao giờ đứt đoạn.

Những nữ cựu công binh Trường Sơn trở lại chiến trường xưa.
Chiến tranh với nữ công binh còn là cuộc chiến âm thầm với “rừng thiêng, nước độc” và thiếu thốn đủ bề. Nhưng tất cả được nén lại vì mạch đường phía trước không được phép ngừng chảy. Ban đêm, cuộc chiến giành giật từng tấc đường trở nên nghẹt thở. Khi máy húc, máy ủi nổ máy, nhiệt lượng và tiếng động cơ trở thành “bia sống” thu hút máy bay địch.
Bà Thoa kể, ở Trường Sơn, người ta không nghe bom bằng tai mà cảm nhận bằng cả lồng ngực. Chỉ một tiếng rít xé màn đêm, bà lập tức đổ người xuống mặt đường. Lồng ngực ép chặt đất lạnh, đất đá nổ dội lên rồi đổ ập xuống lưng, sức ép bom bóp nghẹt nhịp thở giữa khói bom nồng nặc.
Năm 1973, sau trận oanh tạc trúng tọa độ đơn vị, bà Thoa bị thương nặng phải chuyển về tuyến sau điều trị. Hòa bình lập lại, bà rời chiến trường với di chứng tiếng bom và cái lạnh của rừng già. Trở về Thanh Hóa, bà công tác tại đơn vị kiến thiết đến khi nghỉ hưu năm 1992. Hiện nay, bà vẫn tích cực hoạt động trong Hội Cựu chiến binh và Hội Truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh tỉnh Thanh Hóa. Với bà, mỗi buổi sinh hoạt là dịp gặp lại đồng đội, gọi tên nhau để biết tất cả vẫn còn giữa thời bình.
Ngày trở về, quân số tiểu đoàn vơi đi nhiều. Tôi nhớ rõ từng người, người nằm lại vì sốt rét ác tính, người hy sinh vì bom bi khi đường đang mở đường. Những cái tên dẫu phai mờ nhưng tọa độ họ nằm xuống vẫn hiện rõ trong ký ức tôi.
Cựu chiến binh Lê Thị Thoa

Bà Lê Thị Thoa (người thứ 2 từ phải sang trái) cùng đồng đội tham gia hoạt động kỷ niệm, gặp gỡ thế hệ trẻ.
Tiếp nối hành trình đi tìm những ký ức người lính, chúng tôi tìm đến nhà cựu chiến binh Nguyễn Thị Ty, người nữ chiến sĩ xăng dầu đường ống Trường Sơn huyền thoại. “Trường Sơn đông nắng, tây mưa/ Ai chưa đến đó thì chưa hiểu mình”. Với Nguyễn Thị Ty - người con gái quê biển Hoằng Trường năm xưa, điều đó thấm thía hơn bao giờ hết. Quãng thời gian gắn bó với tuyến đường Trường Sơn đầy gian khổ, khốc liệt cũng chính là những tháng năm bà luôn nhớ đến bằng tất cả niềm tự hào.

Cựu chiến binh Nguyễn Thị Ty nhớ lại một thời hoa lửa.
Sinh năm 1957, trong cái nôi gia đình giàu truyền thống cách mạng, năm 17 tuổi, cô gái Nguyễn Thị Ty đã lén gia đình khai tăng tuổi để được khoác ba lô vào chiến trường. Bà trở thành nữ bộ đội xăng dầu đường ống, một lực lượng âm thầm nhưng giữ vai trò sống còn trên tuyến lửa Trường Sơn.
Đường ống xăng dầu khi ấy được thi công trong điều kiện tuyệt đối bí mật. Con đường được ví như “dòng máu trắng” len lỏi chảy giữa đại ngàn, ngày đêm tiếp nhiên liệu cho những đoàn xe chi viện sức người, sức của cho miền Nam. Con đường mà Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn Đồng Sỹ Nguyên từng khẳng định: “Nếu đường Trường Sơn là huyền thoại thì đường ống xăng dầu chính là huyền thoại trong huyền thoại ấy”.
Bà Ty chậm rãi nhớ lại: “Suốt 3 tháng ròng chúng tôi mắc võng giữa rừng làm chỗ ngủ, tán lá che ngang thay mái. Mưa rừng dầm dề, ẩm ướt ngấm sâu vào da thịt. Những cơn sốt rét rừng quăng quật, khi nóng ran như lửa đốt, khi lạnh buốt đến tím tái".
Cơm không đủ ăn, nước cũng không có để uống và tắm giặt, sinh hoạt hàng ngày chúng tôi đều phải dùng nước đọng trong hố bom. Mãi sau này mọi người mới biết, giặc Mỹ đã rải chất độc hóa học khắp cánh rừng, nguồn nước bị nhiễm nặng. Có ai ngờ... từ đó mình cũng mang bệnh trong người.
Cựu chiến binh Nguyễn Thị Ty

Tấm ảnh nữ chiến sĩ bộ đội Trường Sơn Nguyễn Thị Ty chụp năm 1974.
Giọng bà chùng xuống, như lẫn vào những ký ức chưa bao giờ nguôi ngoai. Thế nhưng, với người lính chẳng khó khăn nào có thể làm chùn bước. Bà Ty tiếp lời: “Nhiệm vụ của tôi là nối đường ống dẫn xăng. Khi đó tôi chỉ vỏn vẹn hơn 40kg nhưng vác được cả những đoạn ống còn nặng hơn trọng lượng cơ thể. Đường đi là những sườn núi cheo leo, một bên vách đá dựng đứng, một bên vực sâu hun hút. Chỉ một thoáng sơ sẩy, cả người lẫn ống có thể rơi xuống vực”.
Trên tuyến thi công đường ống, bom bi dày đặc, địch rải khắp cánh rừng. Cái chết có thể ập đến bất cứ lúc nào. Người có thể hy sinh nhưng sợ nhất là đường ống bị đánh phá, xăng rò rỉ. “Dòng máu trắng” được bảo toàn, không ngừng chảy nhưng đồng đội của bà thì đã hy sinh vì nhiễm độc xăng... Có người lúc trước còn nói cười, lúc sau trúng bom ngã xuống ngay trên tuyến, khi chưa kịp sống hết một mùa thanh xuân. Đến bây giờ, mỗi lần nhắc lại bà Ty lại nghẹn ngào, không phải vì nỗi đau chưa vơi, mà bởi ký ức ấy dường như đã trở thành một phần máu thịt.

Trang nhật ký thời chiến của cựu chiến binh Nguyễn Thị Ty.
Những năm tháng trên tuyến lửa Trường Sơn, mọi buồn vui, gian khổ và cả những khoảnh khắc không thể nào quên, bà Ty đều tranh thủ ghi lại trong cuốn nhật ký nhỏ của mình. Theo thời gian, cuốn nhật ký ấy không chỉ là kỷ vật, mà đã trở thành một báu vật, nơi lưu giữ ký ức của một thời tuổi trẻ của bà trong chiến trường.
Mỗi khi nhớ về đồng đội, bà lại đem nhật ký ra đọc, mang cả bộ quân phục năm xưa ra ngắm. Bà trải lòng: “Tôi vẫn thích mặc lại bộ quân phục ngày ấy. Bởi vì, tôi rất nhớ đơn vị, nhớ đồng đội, nhớ Trường Sơn, nhớ những chặng đường hành quân, nhớ cánh rừng thời con gái...”. Đó không chỉ là ký ức của riêng bà mà của cả một thế hệ đã đi qua chiến tranh bằng tuổi trẻ, bằng máu và những hy sinh lặng thầm không thể gọi thành tên.

Nhật ký cựu chiến binh Nguyễn Thị Ty viết trong những năm tháng ở Trường Sơn.
Giữa những tháng ngày khốc liệt nhất, người lính cần lắm điểm tựa của tinh thần, của niềm tin. Và chính trong hoàn cảnh ấy, lời ca tiếng hát đã trở thành “liều thuốc” nâng đỡ tâm hồn người chiến sĩ.
Nương theo cảm thức tri ân và tự hào của những ngày tháng Tư lịch sử, chúng tôi ghé thăm ngôi nhà nhỏ của nhạc sĩ Văn Hòe (97 tuổi) nằm sâu phía trong con ngõ Đặng Tuất, đường Lê Lai, phường Quảng Phú. Nhạc sĩ Văn Hòe vẫn thường được nhắc nhớ đến là người có nhiều đóng góp cho sự phát triển văn học nghệ thuật xứ Thanh. Nhưng ít tai biết được rằng, đằng sau con người nghệ sĩ ấy là một chiến sĩ từng đi qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc.
Những năm tháng đôi mươi rực rỡ nhất, Văn Hòe là anh lính thuộc Tiểu đoàn 284, chiến đấu tại vùng địch hậu Nga Sơn - Phát Diệm. Năm 1951, cả Tiểu đoàn 284 được lệnh hành quân sang Trung Quốc huấn luyện, chuẩn bị tốt các điều kiện để thành lập Trung đoàn pháo cao xạ 367 - trung đoàn pháo cao xạ đầu tiên của Việt Nam lúc bấy giờ. Đây là lực lượng đã góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
Bước qua cuộc kháng chiến chống Pháp, đất nước tiếp tục đối mặt với thử thách khốc liệt hơn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Chính trong dòng chảy lịch sử ấy, người lính năm xưa lại khoác lên mình một vai trò khác - mang lời ca, tiếng hát thay lời động viên, tiếp sức cho đồng đội giữa chiến trường Trường Sơn khốc liệt.

Nhạc sĩ Văn Hòe kể chuyện về chiếc cà mèn được bộ đội tặng khi cùng đoàn văn công Thanh Hóa phục vụ chiến trường Trường Sơn.
Với nhạc sĩ Văn Hòe, mùa khô năm 1969 mãi là những kỷ niệm không thể nào quên. Ký ức như thước phim quay chậm hiển hiện sinh động trong tâm trí người nhạc sĩ, cựu chiến binh già: “Trong thời điểm chiến sự gian nan, khốc liệt, Thanh Hóa được lệnh thành lập một đoàn văn công xung kích đi phục vụ chiến trường B”.
Tin tức truyền đến, khắp các đoàn ca múa khoảng 100 người đều nhất tâm viết đơn tình nguyện vào đoàn văn công xung kích phục vụ chiến trường nhưng quân số chỉ chốt có 16 người. “Bất kì ai trong chúng tôi cũng đều hiểu, chuyến đi ấy có thể là chuyến đi cuối cùng của đời mình. Nhưng truyền thống cách mạng, tinh thần dũng cảm, không sợ khó, không sợ khổ, không sợ hy sinh đã ăn vào máu thịt, chảy trong huyết quản như một lẽ tự nhiên của chúng tôi”, nhạc sĩ Văn Hòe xúc động chia sẻ.
Đoàn văn công xung kích do nhạc sĩ Văn Hòe làm trưởng đoàn có 10 nam, 6 nữ, trong đó một số người đã lập gia đình, có con nhỏ cũng gác lại mọi nỗi niềm riêng vì một mục tiêu chung nhất là mang lời ca, tiếng hát cổ vũ tinh thần chiến đấu cho bộ đội, cải thiện đời sống tinh thần cho Nhân dân vùng chiến sự.
Đoàn hoạt động chủ yếu ở vùng Tây Trường Sơn. Hơn 150 ngày đêm, đoàn văn công xung kích của Thanh Hóa băng qua suối, vượt qua rừng, chênh vênh qua những vực sâu, vách núi chon von để đến những trận địa ác liệt nhất. Khi mùi thuốc súng chưa tan, khói bom B52 còn đặc quánh, tiếng đàn, hát của những người nghệ sĩ như liều thuốc xoa dịu nghịch cảnh.
Đoàn chúng tôi đã từng cất cao tiếng hát trên những cao điểm mịt mù, tan hoang sau trận rải bom. Tiếng đàn, hát của chúng tôi hòa cùng máu và nước mắt. Chúng tôi hát như một khúc tưởng niệm những người lính đã anh dũng ngã xuống, dâng hiến tuổi xuân của mình cho khát vọng hòa bình của dân tộc
Nhạc sĩ Văn Hòe
Ánh mắt người nhạc sĩ nhìn về xa xăm. Ở đó, dường như ông thấy lại khoảnh khắc người lính trẻ bị thương nặng, băng bó kín đầu vẫn cố gượng dậy để nghe văn công đàn, hát. Người lính trẻ run run đưa vàn tay vuốt ve gương mặt người văn công thay cho lời chào.
Ở đó, ông vẫn còn khắc ghi trong tim giây phút ôm cậu lính thông tin bị thương nặng trong vòng tay, khẽ khẽ hỏi: “Cậu đang nghĩ về điều gì?”. Cậu lính dùng hết sức nắm lấy đôi bàn tay ông, nấc lên không tròn vành rõ chữ: “Em... nhớ mẹ, nhớ ... tiếng mẹ ru em” rồi hy sinh. Lời người lính trẻ đã khơi nguồn cảm hứng cho nhạc sĩ Văn Hòe viết nên “Bài ca trên chóp núi”, với những ca từ mộc mạc, chân thành mà da diết, mênh mang.
Giờ đây, từng nốt nhạc, giai điệu vang lên trong căn nhà nhỏ của nhạc sĩ Văn Hòe là một cách giữ lại quá khứ, nhắc nhớ lại những gương mặt, giọng nói, số phận đã hòa vào tình yêu đất nước thiêng liêng.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ trường kỳ, còn biết bao người con quê Thanh Hóa gác lại tuổi xuân, sẵn sàng đi tới những nơi khốc liệt nhất để bảo vệ từng tấc đất quê hương. Mạch ký ức ấy sẽ tiếp tục được nối dài trong câu chuyện về những người lính chiến đấu dưới tọa độ lửa.
Nhóm PV Chuyên đề
Bài 3: Chúng tôi đứng rất gần nhưng không thể đưa đồng đội về, đó là khoảnh khắc đau đớn nhất của đời lính


![[Video] Trung đoàn đặc công 113 - Một thời luồn sâu, đánh hiểm](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w400_r3x2/2026_04_30_423_55055740/d6dc92524b1aa244fb0b.jpg)







