Khuyến cáo từ Bộ Công Thương trước yêu cầu mới của thị trường Hoa Kỳ

Trước những thay đổi trong chính sách thương mại của Hoa Kỳ và lộ trình thực hiện Thông tư số 31/2026/TT-BCT, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu và xuất khẩu cần chủ động rà soát, chuẩn hóa và nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc trong toàn bộ chuỗi cung ứng.

Hoa Kỳ yêu cầu mới về nguồn gốc sản xuất hàng hóa

Theo thông tin từ Bộ Công Thương, Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) mới công bố, Việt Nam là một trong 60 nền kinh tế mà cơ quan này điều tra theo Mục 301 nhằm xem xét việc các nền kinh tế chưa ban hành hoặc chưa thực thi hiệu quả lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất toàn bộ hoặc một phần bằng lao động cưỡng bức hay không. Việt Nam được liệt kê tại vị trí thứ 60 trong danh sách các nền kinh tế thuộc phạm vi điều tra.

Bản ghi nhớ quy định mức thuế 10% đối với hàng hóa của một số nền kinh tế đã có cơ chế cấm, có cam kết thiết lập cơ chế cấm hoặc đã áp dụng một phần các biện pháp ngăn chặn hàng hóa có yếu tố lao động cưỡng bức. Đối với các nền kinh tế còn lại, USTR được chỉ đạo áp mức thuế theo Mục 301 là 12,5%. Theo cách phân loại này, hàng hóa có xuất xứ Việt Nam thuộc nhóm áp dụng mức thuế 12,5%, trừ các sản phẩm được miễn theo Phụ lục của Bản ghi nhớ.

Đáng chú ý, Bản ghi nhớ nhấn mạnh hàng hóa được sản xuất “toàn bộ hoặc một phần” bằng lao động cưỡng bức. Điều này cho thấy rủi ro không chỉ phát sinh tại công đoạn sản xuất sản phẩm cuối cùng mà còn có thể bắt nguồn từ nguyên liệu, linh kiện, bán thành phẩm hoặc một công đoạn bất kỳ trong chuỗi cung ứng.

Bản ghi nhớ cũng đề cập cơ chế hạn ngạch thuế quan đối với một số mặt hàng dệt may, gắn với việc sử dụng bông và nguyên liệu dệt may của Hoa Kỳ, nhằm giảm sự phụ thuộc vào các nguồn đầu vào có nguy cơ cao chứa yếu tố lao động cưỡng bức. Nội dung này phản ánh xu hướng ngày càng coi trọng nguồn gốc của nguyên liệu đầu vào trong chuỗi sản xuất toàn cầu.

Doanh nghiệp phải lưu ý về truy xuất nguồn gốc

Theo Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), bản ghi nhớ của Hoa Kỳ không quy định trực tiếp một quy trình truy xuất nguồn gốc cụ thể đối với từng doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, để chứng minh sản phẩm không được sản xuất toàn bộ hoặc một phần bằng lao động cưỡng bức, doanh nghiệp phải có khả năng xác định và cung cấp thông tin đáng tin cậy về nguồn gốc nguyên liệu, nhà cung cấp, địa điểm sản xuất và các công đoạn hình thành sản phẩm.

Yêu cầu này đặc biệt quan trọng đối với những ngành có chuỗi cung ứng dài, nhiều tầng hoặc sử dụng nguyên liệu có nguồn gốc từ nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ như dệt may, da giày, điện tử, năng lượng, thiết bị điện, sản phẩm sử dụng linh kiện bán dẫn, khoáng sản và một số mặt hàng nông sản.

Đối với ngành dệt may, doanh nghiệp cần quan tâm không chỉ đến nơi cắt, may và hoàn thiện sản phẩm mà còn phải xác định nguồn gốc của bông, xơ, sợi, vải, thuốc nhuộm và các nguyên phụ liệu khác. Đối với ngành điện tử và năng lượng, việc kiểm soát cần bao quát cả linh kiện, vật liệu bán dẫn, pin, tấm quang điện, khoáng sản và các nguyên liệu đầu vào quan trọng.

Cũng theo Cục này, cần lưu ý, phạm vi hàng hóa có nguy cơ bị Hoa Kỳ kiểm tra về lao động cưỡng bức, chuyển tải hoặc lẩn tránh biện pháp thương mại không hoàn toàn trùng với Danh mục hàng hóa rủi ro cao của Việt Nam. Nhiều sản phẩm dệt may hiện thuộc nhóm rủi ro trung bình; một số nhiên liệu thuộc nhóm rủi ro cao; trong khi bông, xơ, sợi, linh kiện bán dẫn, tấm quang điện, pin lưu trữ và một số vật liệu đầu vào chưa phải tất cả đều được phân loại là hàng hóa rủi ro cao theo quy định trong nước.

Đối với bông, xơ, sợi và nguyên liệu đầu vào khác, doanh nghiệp vẫn cần chủ động truy xuất sâu hơn theo yêu cầu của thị trường xuất khẩu, kể cả khi nguyên liệu đó chưa thuộc Danh mục rủi ro cao theo pháp luật trong nước.

Đối với hàng hóa xuất khẩu, doanh nghiệp cần chủ động thực hiện các nội dung như rà soát và lập bản đồ chuỗi cung ứng, xác định nhà cung cấp trực tiếp và các nhà cung cấp ở tầng sâu hơn; Thu thập, lưu giữ hồ sơ về nguồn gốc nguyên liệu, linh kiện, địa điểm sản xuất, vận chuyển và giao nhận;

Ngoài ra, cần tiến hành phân loại nhà cung cấp theo mức độ rủi ro, tăng cường thẩm tra đối với nguồn hàng từ khu vực, doanh nghiệp hoặc ngành hàng có cảnh báo; Chuẩn hóa dữ liệu truy xuất theo từng sản phẩm, lô, mẻ hoặc số sê-ri; Kiểm soát chặt chẽ xuất xứ, không thực hiện hoặc tiếp tay cho chuyển tải, thay nhãn, đóng gói đơn giản để khai báo xuất xứ Việt Nam

Đồng thời đưa yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, lao động và xuất xứ vào hợp đồng với nhà cung cấp; Chuẩn bị đầu mối và hồ sơ để phản ứng nhanh khi cơ quan quản lý hoặc đối tác nhập khẩu yêu cầu xác minh. Hồ sơ cần được tổ chức theo cách có thể nhanh chóng truy xuất ngược từ sản phẩm cuối cùng về nguyên liệu và truy xuất xuôi từ nguyên liệu đến các lô sản phẩm có liên quan.

H.T

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/khuyen-cao-tu-bo-cong-thuong-truoc-yeu-cau-moi-cua-thi-truong-hoa-ky.html