Khuyến học bằng vật chất ở triều Lê Trung hưng
Triều Lê Trung hưng là vương triều tồn tại 256 năm (1533-1789). Đây là giai đoạn quốc gia Đại Việt có sự phát triển tương đối ổn định trên tất cả các phương diện của đời sống xã hội do cuộc chiến tranh giữa hai vương triều Lê - Mạc và cục diện phân chia Đàng Trong - Đàng Ngoài kết thúc.
Để củng cố vương quyền, triều Lê Trung hưng rất quan tâm đến việc tổ chức và phát triển giáo dục, trong đó có hoạt động khuyến học bằng vật chất để tạo ra nguồn nhân lực phục vụ cho bộ máy nhà nước.

Bia đề danh Tiến sĩ khoa thi đầu tiên (1554) của triều Lê Trung hưng.
Đối với trường công lập ở các phủ, huyện do nhà nước quản lý, triều đình duy trì chế độ đặt học điền. Trong Kiến văn tiểu lục, nhà bác học Lê Quý Đôn cho biết: "Khoảng năm Cảnh Trị (1663-1671) mới cấp cho Huấn đạo mỗi phủ được 20 mẫu học điền".
Đây là đợt đặt học điền thứ hai ở nước ta, sau đợt đặt học điền đầu tiên tổ chức vào năm 1397 dưới triều vua Trần Thuận Tông (1388-1398). Hiện chưa rõ số ruộng này được canh tác ra sao, thu lợi tức thế nào, chỉ có thể hình dung ở mỗi phủ được quyền thu hoa lợi trên số ruộng đó giao cho Huấn đạo phụ trách, dùng vào mục đích học tập tại bản phủ.
Đến thời Trịnh Cương (1709-1729), triều đình lại "Cấp ruộng cho trường quốc học và hương học, nhiều ít khác nhau (trường quốc học được cấp 60 mẫu, phủ lớn: 20 mẫu; phủ vừa: 18 mẫu; phủ nhỏ: 16 mẫu)".
Đợt cấp học điền này là thứ ba ở nước ta, hai đợt sau được thực hiện ở triều Lê Trung hưng, phản ánh thực trạng triều Lê Trung hưng là thời đại rất coi trọng hoạt động khuyến học bằng vật ở nước ta.
Đối với người đi học, triều Lê Trung hưng tạo điều kiện thuận lợi cho sĩ tử yên tâm học tập bằng cách tiếp tục cho miễn tạp dịch, vốn là chính sách có từ triều Lê sơ.
Chính sử chép vào năm Cảnh Trị thứ 2 (1664), trước tình trạng tiêu cực xảy ra ở trường thi Hương vào các năm Đinh Dậu (1657), Canh Tý (1660) và Quý Mão (1663), triều đình cho phúc khảo tất cả Sinh đồ đã đỗ ở những khoa thi này nhằm rũ bỏ người "dốt nát, người nhờ làm bài".
Đề thi phúc khảo là một bài thơ Đường và một bài ám tả chính văn kiêm đại chú trong Kinh truyện. Mục đích là để "Người nào đỗ vẫn được là Sinh đồ, người nào hỏng phải ở lại 3 năm học tập, cho miễn tạp dịch. Nếu thi lại lần nữa vẫn không đỗ mới trở về làm dân chịu tạp dịch".
Khi đỗ thi Hương, triều đình sẽ bổ các chức vụ khác nhau dùng khích lệ tinh thần học tập cho người đi học. Lê Quý Đôn cho biết: "Năm Cảnh Trị thứ 8 (1670) chuẩn định [...] Nho sinh trúng thức và Giám sinh, người nào dự thi Hội được trúng cách ba kỳ [đỗ tam trường thi Hội] mà có chút học lực và phẩm hạnh thì sơ thụ cất nhắc giữ các chức Huấn đạo, Học chính và Tự ban; khi mãn nhiệm được thăng các chức Tri phủ hoặc Viên ngoại, lại mãn nhiệm lần nữa được thăng các chức Thiếu khanh, Lang trung và Thiếu doãn hoặc người nào được triều thần bảo cử sẽ được thăng chức Hiến phó".
Khi đỗ thi Hội, cũng theo Lê Quý Đôn, triều đình "đãi ngộ rất hậu, bổ dụng rất cao". Cụ thể, người nào đỗ ở hạng Tam khôi [Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa] hoặc ứng thí trúng cách được bổ vào Viện Hàn lâm, còn người đỗ đồng Tiến sĩ [Tiến sĩ] cũng được bổ giữ chức quan trọng ở các khoa, đạo, không phải bổ quan ở phủ hoặc huyện. Trong các khoa thi, chọn một người đỗ trẻ tuổi nhất được bổ chức Hiệu thảo.
Người nào bổ quan ở ngoài các trấn thì bổ vào hai ty Thừa chính hoặc Hiến sát, đều trao cho Chưởng ấn chính thức, không phải giữ chức Tá nhị". Theo thống kê, số người đỗ Tiến sĩ ở triều Lê Trung hưng là 774 vị, trong đó có 756 người ra làm quan, chiếm tỷ lệ 97%. Tỷ lệ làm quan như vậy cho thấy tác dụng của chính sách khuyến học bằng vật chất ở triều Lê Trung hưng là rất lớn.
Trong quá trình đương chức, những vị xuất thân từ khoa cử trở lên còn được nhà nước đãi ngộ quyền lợi về kinh tế, thể hiện ở lệ cấp "tùy hành dân hộ", tức đây là hình thức cấp ruộng làm lộc điền theo học vị khác nhau. Lê Quý Đôn cho biết: "Nếu xuất thân là Tiến sĩ, được cấp tùy hành dân xã 35 người; Hoàng giáp 40 người; Thám hoa 45 người; Bảng nhãn 50 người; Trạng nguyên 55 người".
Đến cuối triều Lê Trung hưng, vào năm 1741, Chúa Trịnh Doanh (1740-1767) bỏ lệ này, thay bằng lệ "cấp ruộng công", theo đó người làm quan "nhất phẩm cấp 45 mẫu, nhị phẩm cấp 40 mẫu, tam phẩm cấp 35 mẫu, tứ phẩm cấp 30 mẫu, ngũ phẩm cấp 25 mẫu, lục, thất, bát, phẩm cấp 20 mẫu. Những viên quan đỗ đạt cao được cấp thêm: Trạng nguyên thêm 20 mẫu, Bảng nhãn và Thám hoa thêm 15 mẫu, Hoàng giáp thêm 5 mẫu".
Không chỉ có vậy, khi về trí sĩ, triều đình cũng dành cho người làm quan những ưu đãi lớn. Đó là việc kéo dài tuổi trí sĩ mà ngày nay ta gọi là kéo dài thời gian làm việc (nghỉ hưu) cho các nhà khoa học có học hàm học vị. Sử gia Phan Huy Chú cho biết: "Từ thời Lê Trung hưng về sau, các quan văn võ đến tuổi 70 mới cho về hưu; viên nào 69 tuổi thì cuối năm phải làm tờ khai viện lệ bày xin, giao cho các quan bàn, kể rõ chức tước nên thăng và mọi sự lệ, trình lên chúa xét để thi hành".
Đi đôi với đó là quyền lợi về vật chất mà họ được hưởng. Cũng theo sử gia họ Phan, trong mục "Lệ cấp bổng lộc" ghi nhận vào năm Bảo Thái thứ 4 (1723) lại định lệ các quan về hưu, viên nào quê ở hai xứ Thanh, Nghệ thì cho người theo hầu 4 suất lấy ở thân thuộc và 16 suất dân huệ lộc bản cai; viên nào quê ở bốn trấn [vùng đồng bằng Bắc Bộ] thì cho người theo hầu 20 suất lấy ở dân huệ lộc bản cai. Mỗi suất cho trừ tiền quý 2 quan 8 tiền. Các viên trí sĩ thì số dân lộc và số người theo hầu vẫn được cấp nguyên như trước".
Như thế thì thấy chính sách khuyến học bằng vật chất ở triều Lê Trung hưng đã tạo cho tầng lớp trí thức Nho học đỗ đại khoa một cuộc sống sung túc, điều mà những sĩ tử luôn mơ ước để phấn đấu vươn lên bằng con đường học tập và khoa cử, ra làm quan giúp nước. Và cũng nhờ chính sách khuyến học này mà triều Lê Trung hưng có 774 người đỗ Tiến sĩ cùng hàng vạn người đỗ Hương cống, làm vẻ vang cho nền giáo dục khoa cử nước nhà, góp phần vào việc xây dựng đất nước, mang bản sắc văn hóa của người Việt Nam ở các thế kỷ XVI, XVII và XVIII.











