Kích hoạt tăng trưởng hai con số: Đột phá từ chính sách vi mô
Tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm đạt 8,18% - mức cao nhất trong 16 năm qua, nhưng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần nhiều hơn các giải pháp kích cầu truyền thống. Đột phá về thể chế, chính sách thuế, tín dụng, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo phải trở thành những động lực mới.
Đây là vấn đề được các chuyên gia, nhà quản lý và cộng đồng doanh nghiệp chia sẻ tại Diễn đàn “Kích hoạt tăng trưởng: Chính sách vi mô đột phá và mục tiêu hai con số”, diễn ra ngày 14-7, do Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức.

Quang cảnh Diễn đàn “Kích hoạt tăng trưởng: Chính sách vĩ mô đột phá và mục tiêu hai con số”. Ảnh: PV
Tăng trưởng hai con số cần bắt đầu từ cải cách vi mô
Trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2026 và duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026-2030, yêu cầu hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực và tạo động lực phát triển mới trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Phát biểu khai mạc diễn đàn, GS.TS Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhấn mạnh, mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là yêu cầu về quy mô hay tốc độ, mà còn đòi hỏi bước chuyển căn bản về chất lượng thể chế, năng suất, năng lực công nghệ, sức cạnh tranh của doanh nghiệp và hiệu quả phân bổ nguồn lực. “Tăng trưởng phải được hình thành trên một nền tảng mới: Năng suất cao hơn, doanh nghiệp mạnh hơn, thị trường thông suốt hơn, công nghệ hiện đại hơn và bộ máy thực thi hiệu quả hơn”, GS.TS Lê Văn Lợi nhấn mạnh.
Theo GS.TS Lê Văn Lợi, nhiều năm qua, chính sách kinh tế của Việt Nam chủ yếu tập trung vào ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn. Tuy nhiên, ổn định vĩ mô mới chỉ là điều kiện cần; năng lực tăng trưởng thực sự lại được tạo ra ở cấp độ doanh nghiệp, từng ngành, từng địa phương và từng dự án đầu tư.
Nền kinh tế khó có thể tăng trưởng nhanh nếu doanh nghiệp vẫn mất quá nhiều thời gian và chi phí cho thủ tục hành chính; vốn chưa chảy tới các dự án có năng suất cao; hay khi đất đai, dữ liệu, công nghệ và nhân lực chưa được sử dụng hiệu quả.
Từ thực tế đó, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đề xuất chuyển mạnh trọng tâm sang cải cách vi mô có tính đột phá, với các cơ chế khuyến khích nghiên cứu - phát triển (R&D), đổi mới công nghệ, tín dụng dựa trên dữ liệu và triển vọng kinh doanh, phát triển thị trường dữ liệu minh bạch cũng như cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với các mô hình kinh doanh mới.
Ông cũng nhấn mạnh ba yêu cầu để các đột phá vi mô thực sự trở thành động lực tăng trưởng gồm: Chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển; chuyển từ chính sách bình quân sang chính sách có trọng tâm, trọng điểm; và coi chất lượng thực thi là một bộ phận cấu thành của chính sách.

Các đại biểu tham dự diễn đàn. Ảnh: PV
Đồng quan điểm, PGS.TS Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương cho biết, GDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,18% - mức cao nhất trong 16 năm qua. Tuy nhiên, dư địa của các chính sách vĩ mô truyền thống như nới lỏng tiền tệ quy mô lớn hay kích cầu tài khóa diện rộng đang dần thu hẹp.
Vì vậy, động lực tăng trưởng mới cần được tìm kiếm từ các chính sách vi mô - những chính sách tác động trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Trọng tâm không còn là kích thích tổng cầu một cách đại trà, mà là tháo gỡ các "điểm nghẽn" ở cấp độ doanh nghiệp, ngành và thị trường; tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp đầu tư, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất.
PGS.TS Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng, thực tiễn đang đặt ra nhiều nghịch lý cần được giải quyết. Doanh nghiệp có nhu cầu vốn rất lớn nhưng khả năng hấp thụ vốn còn hạn chế; quá trình chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ nhưng vẫn vướng mắc về thể chế, dữ liệu và chi phí tuân thủ; nhiều mô hình kinh doanh mới phát triển nhanh hơn tốc độ hoàn thiện của khung pháp lý. Vì vậy, các chính sách vi mô cần hướng tới giảm chi phí giao dịch, xóa bỏ các rào cản gia nhập thị trường, cải thiện khả năng tiếp cận vốn, đất đai, dữ liệu và công nghệ, đồng thời mở rộng không gian thử nghiệm cho đổi mới sáng tạo.
Chính sách phải tạo động lực mới cho doanh nghiệp
Làm rõ hơn các giải pháp chính sách, TS Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho rằng, nền kinh tế đang đứng trước cơ hội lớn từ quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu nhưng cũng phải đối mặt với nhiều biến động từ thương mại và địa chính trị. Trong bối cảnh đó, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ quyết định khả năng tận dụng cơ hội. Muốn vậy, chính sách cần chuyển từ tư duy hỗ trợ sang kiến tạo, tập trung cải cách thể chế, giảm chi phí tuân thủ và tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp mở rộng đầu tư, đổi mới công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Ở góc độ chính sách tài khóa, ông Nguyễn Văn Phụng, nguyên Vụ trưởng Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp lớn (Bộ Tài chính) chỉ ra, thuế không chỉ là công cụ huy động nguồn thu ngân sách mà phải trở thành công cụ thúc đẩy phát triển.
Thay vì ưu đãi dàn trải, chính sách thuế cần được thiết kế theo hướng có trọng tâm, có thời hạn và có cơ chế đánh giá hiệu quả, tập trung khuyến khích hoạt động nghiên cứu - phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nâng cao năng suất và phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Đây cũng là cách để nguồn lực tài khóa được phân bổ đúng đối tượng, tạo hiệu ứng lan tỏa lớn hơn cho nền kinh tế.
Đối với chính sách tín dụng, PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh, Phó Giám đốc Thường trực Học viện Ngân hàng khuyến nghị, chính sách cần chuyển mạnh từ hỗ trợ theo tài sản bảo đảm sang đánh giá dựa trên hiệu quả dự án và triển vọng kinh doanh. Việc phát triển các sản phẩm tín dụng linh hoạt, mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo hay nông nghiệp công nghệ cao sẽ góp phần khơi thông dòng vốn cho những khu vực có khả năng tạo ra năng suất và giá trị gia tăng cao.
Các chuyên gia cũng nhận định, việc xây dựng các khu thương mại tự do, khu kinh tế thế hệ mới và trung tâm tài chính quốc tế sẽ chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng nếu đi kèm những thể chế vượt trội, cơ chế quản trị hiện đại và môi trường đầu tư có sức cạnh tranh quốc tế.











