Kiến trúc tư tưởng cho kỷ nguyên phát triển mới

Mỗi dân tộc trên hành trình phát triển đều có những thời điểm buộc phải tự đặt câu hỏi: Tiếp tục đi theo quán tính cũ hay dũng cảm bước sang một quỹ đạo mới? Việt Nam hôm nay đang đứng trước một thời khắc như vậy.

Thế giới đang biến đổi nhanh hơn bao giờ hết. Cạnh tranh công nghệ, dịch chuyển chuỗi cung ứng, tiêu chuẩn xanh, trí tuệ nhân tạo, xung đột địa chính trị... đang định hình lại thứ bậc sức mạnh của các quốc gia. Đất nước muốn vươn mình phải dựa vào những nguồn lực bền vững hơn như tư duy đúng, trí tuệ mạnh, thể chế chuẩn mực và khả năng hội nhập sâu rộng.

Những nghị quyết lớn mà Bộ Chính trị ban hành: Nghị quyết 57 về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Nghị quyết 59 về hội nhập quốc tế toàn diện; Nghị quyết 66 về đổi mới xây dựng và thi hành pháp luật; Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân - không chỉ nhằm giải quyết những điểm nghẽn trước mắt. Chúng tạo thành một chỉnh thể tư tưởng hoàn chỉnh, định hình mô hình phát triển mới của Việt Nam trong kỷ nguyên toàn cầu hóa thế hệ mới.

Nếu Đổi mới 1986 mở cánh cửa đưa Việt Nam thoát khỏi cơ chế bao cấp và bước vào kinh tế thị trường, thì những nghị quyết ngày nay mở ra một chặng đường mới: chặng đường của Đổi mới 2.0, nơi quốc gia không chỉ cải cách để thích ứng, mà chủ động kiến tạo để bứt phá.

Nhìn từ chiều sâu triết lý, những nghị quyết kể trên được định hình bởi bốn tư tưởng lớn: Trí tuệ là động cơ tăng trưởng; Thế giới là không gian phát triển; Thể chế là nền tảng của năng lực vận hành quốc gia; và Kinh tế tư nhân với doanh nghiệp và doanh nhân ở trung tâm là một động lực quan trọng của thịnh vượng quốc gia.

Bốn tư tưởng ấy giao thoa tạo thành một bản thiết kế phát triển nhất quán - lời giải của Việt Nam trước những đòi hỏi ngày càng gay gắt của thời đại mới.

Khi trí tuệ trở thành động cơ, quốc gia có thể tạo ra giá trị gia tăng cao hơn, tham gia vào các chuỗi cung ứng ở vị trí tốt hơn và chủ động mở ra những ngành kinh tế mới. Ảnh: Hoàng Hà

Khi trí tuệ trở thành động cơ, quốc gia có thể tạo ra giá trị gia tăng cao hơn, tham gia vào các chuỗi cung ứng ở vị trí tốt hơn và chủ động mở ra những ngành kinh tế mới. Ảnh: Hoàng Hà

Trí tuệ là động cơ phát triển

Trong nhiều năm, kinh tế Việt Nam tăng trưởng dựa chủ yếu vào những nguồn lực dễ khai thác và dòng vốn đầu tư ngoại. Nhưng mô hình ấy đang chạm trần. Những quốc gia thành công trong thế kỷ 21 đều cho thấy rằng giá trị lớn nhất của một nền kinh tế không nằm trong lòng đất, mà nằm trong trí óc con người.

Nghị quyết 57 đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ từ mô hình “tăng trưởng bằng mở rộng” sang mô hình “tăng trưởng bằng nâng cấp”. Từ phát triển dựa trên các yếu tố hữu hạn (tài nguyên, đất đai, nhân công) sang phát triển dựa trên những nguồn lực vô hạn: tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Ở tầng sâu triết học, nghị quyết này khẳng định một chân lý: Một dân tộc không thể phát triển nhanh hơn năng lực sáng tạo của chính mình.

Khi trí tuệ trở thành động cơ, quốc gia có thể tạo ra giá trị gia tăng cao hơn, tham gia vào các chuỗi cung ứng ở vị trí tốt hơn và chủ động mở ra những ngành kinh tế mới.

Nghị quyết 57 là lời khẳng định rằng tương lai của Việt Nam phải được kiến tạo bằng trí tuệ Việt Nam.

Thế giới là không gian phát triển của quốc gia

Một động cơ mạnh luôn cần một không gian đủ rộng để vận hành.

Nghị quyết 59 đặt ra tư tưởng rất rõ: Hội nhập không chỉ để mở cửa, mà để mở rộng không gian tồn tại và hành động của quốc gia. Khi Việt Nam tham gia sâu hơn vào các mạng lưới quốc tế, chúng ta không chỉ tiếp nhận dòng vốn và công nghệ, mà còn nâng cao vị thế, mở rộng ảnh hưởng và chủ động tham gia định hình luật chơi.

Tư tưởng của Nghị quyết 59 có thể được tóm lại trong một mệnh đề: Một quốc gia nhỏ về diện tích vẫn có thể lớn về tầm vóc nếu biết mở rộng năng lực hành động trong trật tự quốc tế.

Nhờ hội nhập sâu rộng, Việt Nam có thể tiến vào những sân chơi của kinh tế số, kinh tế xanh, công nghệ cao và các dòng thương mại và đầu tư chất lượng cao. Đó cũng là con đường để nâng vị thế quốc tế của đất nước lên một tầm cao mới.

Thể chế là nền tảng của năng lực vận hành quốc gia

Dù trí tuệ có mạnh và không gian có rộng đến đâu, quốc gia vẫn không thể bứt phá nếu “hệ điều hành” của mình còn nhiều điểm nghẽn. Nghị quyết 66 đặt trọng tâm vào việc đổi mới căn bản tư duy xây dựng và thi hành pháp luật.

Ở tầm triết lý, nghị quyết này khẳng định: Thể chế chính là nền tảng của năng lực vận hành quốc gia. Một quốc gia muốn phát triển phải có luật pháp minh bạch, dự đoán được và tương thích với các xu thế mới của thế giới.

Nghị quyết 66 hướng đến việc tiêu chuẩn hóa, số hóa và hiện đại hóa toàn bộ hệ thống pháp luật. Khi thể chế trở thành “lực đẩy”, thay vì “lực cản”, doanh nghiệp sẽ mạnh dạn hơn, người dân sẽ sáng tạo hơn, và nhà đầu tư sẽ tin tưởng hơn. Đó là nền tảng để Việt Nam vận hành trơn tru trong một thế giới nhiều biến động.

Kinh tế tư nhân - động lực và chủ thể kiến tạo thịnh vượng

Cuối cùng, mọi tư tưởng phát triển dù đúng đắn và sâu sắc đến đâu đều cần những chủ thể cụ thể để hiện thực hóa.

Nghị quyết 68 xác lập rõ ràng rằng khu vực kinh tế tư nhân chính là một động lực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam.

Ở tầng sâu hơn, nghị quyết khẳng định một chân lý giản dị nhưng có sức mạnh lớn: Không có quốc gia phát triển nào mà thiếu vắng doanh nghiệp mạnh và đội ngũ doanh nhân dám dấn thân.

Doanh nhân là những người nhìn thấy cơ hội nơi người khác chỉ thấy rủi ro; là những người biến tri thức thành sản phẩm, biến hội nhập thành thị trường, biến thể chế thành giá trị cụ thể cho xã hội. Không có họ, mọi thiết kế thể chế dù chuẩn mực đến đâu cũng không thể đi vào cuộc sống.

Nghị quyết 68 vì vậy hướng đến việc giải phóng năng lực của khu vực tư nhân, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, giảm rủi ro pháp lý, giảm chi phí tuân thủ và tạo lập môi trường cạnh tranh công bằng. Khi doanh nghiệp tư nhân lớn lên, quốc gia sẽ lớn lên. Khi doanh nhân Việt Nam bước ra thế giới, tầm vóc Việt Nam cũng được nâng lên theo.

Đây không chỉ là chính sách kinh tế. Đây là một lựa chọn chiến lược: đặt niềm tin vào con người Việt Nam, vào sức mạnh sáng tạo của doanh nhân Việt Nam, vào khả năng bứt phá của khu vực tư nhân Việt Nam.

Mở ra quỹ đạo phát triển hoàn toàn mới

Khi đặt bốn nghị quyết vào cùng một chỉnh thể, ta thấy rõ rằng chúng là bốn thành tố cấu tạo nên một hệ tư tưởng phát triển nhất quán và liên thông của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Trí tuệ cung cấp động cơ đổi mới và bứt phá. Hội nhập mở rộng không gian phát triển của quốc gia. Thể chế tạo dựng nền tảng vận hành minh bạch, hiệu quả và đáng tin cậy. Kinh tế tư nhân với doanh nghiệp và doanh nhân ở trung tâm biến tư tưởng phát triển thành hành động và thành quả cụ thể.

Nhìn rộng hơn, những nghị quyết đó chính là lời đáp của Việt Nam trước những thách thức của thế kỷ 21: muốn phát triển bền vững phải dựa vào trí tuệ, hội nhập thông minh, thể chế hiện đại và một khu vực kinh tế tư nhân có khát vọng vươn lên.

Những nghị quyết đó không chỉ tháo gỡ các điểm nghẽn của hiện tại, mà còn mở ra một quỹ đạo phát triển hoàn toàn mới cho Việt Nam trong nhiều thập kỷ tới: từ tăng trưởng dựa vào vốn và lao động sang tăng trưởng dựa vào tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo; từ vị thế “tham gia thị trường” sang vị thế “đồng kiến tạo luật chơi” và chuẩn mực toàn cầu; từ điều hành thiên về hành chính sang quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu, minh bạch và trách nhiệm giải trình; từ tư duy làm nhỏ, an toàn sang tư duy làm lớn - hình thành những doanh nghiệp tư nhân có sức cạnh tranh quốc tế.

Nếu Đổi mới 1986 là cuộc cách mạng “tháo trói” để đất nước bước vào kinh tế thị trường, thì những nghị quyết hôm nay là cuộc cách mạng “kiến tạo” - kiến tạo thể chế mới, kiến tạo mô hình tăng trưởng mới, kiến tạo không gian hội nhập mới và kiến tạo một lực lượng doanh nhân Việt Nam có khát vọng vươn tầm khu vực và thế giới.

Chính sự chuyển đổi đồng bộ ấy tạo nền tảng để Việt Nam tự tin hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045 - một quốc gia mạnh về trí tuệ, rộng mở về hội nhập, chuẩn mực về thể chế và thịnh vượng nhờ sức mạnh của khu vực kinh tế tư nhân.

Chúng ta có lý do để tin tưởng rằng đất nước đang bước vào một giai đoạn phát triển hoàn toàn mới - giai đoạn của tư duy lớn, khát vọng lớn và những quyết sách mang tầm nhìn dài hạn.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/kien-truc-tu-tuong-cho-ky-nguyen-phat-trien-moi-2491954.html