Kinh tế sinh học và thương mại hóa công nghệ sinh học: Động lực tăng trưởng mới
Sự kết hợp giữa công nghệ sinh học với trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và điện toán đám mây đang rút ngắn thời gian nghiên cứu, giảm chi phí và mở rộng cơ hội thương mại hóa các sáng chế sinh học…
Kinh tế sinh học, mô hình phát triển dựa trên việc sáng tạo, phát triển và sử dụng các nguồn tài nguyên sinh học tái tạo, đang nổi lên như một động lực then chốt, một trụ cột mới cho nền kinh tế toàn cầu. Không chỉ đơn thuần là giải pháp thay thế, kinh tế sinh học mở ra một phương thức sản xuất mới, thân thiện với môi trường, tối ưu hóa dòng tuần hoàn vật chất và đảm bảo sức khỏe cho xã hội.
CÔNG NGHỆ SINH HỌC KẾT HỢP AI MỞ RỘNG CƠ HỘI THƯƠNG MẠI HÓA
Phát biểu tại Hội thảo chuyên đề: “Kinh tế sinh học và thương mại hóa công nghệ sinh học: Động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số” Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI) phối hợp cùng Cục Thông tin và Thống kê (Bộ KH&CN) tổ chức ngày 15/10, TS. Trần Văn Tùng, Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI), cho rằng sự hội tụ giữa công nghệ sinh học và kỉ nguyên số đang tạo ra những bước nhảy vọt chưa từng có.
“Trước đây, quá trình nghiên cứu và phát triển (R&D) trong ngành sinh học thường kéo dài hàng thập kỉ với chi phí đắt đỏ và tỉ lệ rủi ro cao. Giờ đây, khi công nghệ sinh học kết hợp cùng Trí tuệ nhân tạo (AI), Dữ liệu lớn (Big Data), Điện toán đám mây và Chuỗi khối (Blockchain), chúng ta đang chứng kiến sự ra đời của khái niệm “Sinh học kĩ thuật số”. Sự giao thoa này không chỉ tăng tốc quá trình sáng tạo mà còn hạ thấp rào cản đưa các phát minh, các sáng chế sinh học vào đời sống thực tiễn”, TS. Trần Văn Tùng nhấn mạnh.
Trước đây, quá trình nghiên cứu và phát triển (R&D) trong ngành sinh học thường kéo dài hàng thập kỉ với chi phí đắt đỏ và tỉ lệ rủi ro cao. Giờ đây, khi công nghệ sinh học kết hợp cùng Trí tuệ nhân tạo (AI), Dữ liệu lớn (Big Data), Điện toán đám mây và Chuỗi khối (Blockchain), chúng ta đang chứng kiến sự ra đời của khái niệm “Sinh học kĩ thuật số”
TS. Trần Văn Tùng Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI)

Công nghệ sinh học hiện đang được ứng dụng vào rất nhiều sản phẩm và dịch vụ đa dạng. Ngoài những lĩnh vực truyền thống như y – dược; chế biến nông sản, thực phẩm; các chế phẩm sinh học dùng trong nông nghiệp… hiện nay đã xuất hiện những khái niệm mới mẻ như liệu pháp tế bào và gene chính xác, công nghệ mRNA, y học nền tảng, sinh học tổng hợp… cho đến công nghệ làm đẹp sinh học, dinh dưỡng cá thể hóa. Công nghệ sinh học thậm chí được ứng dụng cả vào giải trí và thời trang.
THÁCH THỨC TỪ PHÒNG THÍ NGHIỆM ĐẾN THỊ TRƯỜNG
Tuy nhiên, khoảng cách của các sản phẩm công nghệ sinh học từ "phòng thí nghiệm" đến "thị trường" tại Việt Nam vẫn còn những khó khăn đáng kể. Theo PGS.TS Huỳnh Thành Đạt, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, phát triển công nghệ sinh học và kinh tế sinh học không chỉ là câu chuyện của một ngành công nghệ hay một lĩnh vực sản xuất, mà còn là vấn đề về năng lực làm chủ công nghệ, khả năng chuyển hóa tri thức thành giá trị kinh tế và sự gắn kết giữa nghiên cứu với yêu cầu phát triển của đất nước.

PGS.TS Huỳnh Thành Đạt, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương. Ảnh: Hà Tuấn
“Dù có tiềm năng ứng dụng rộng lớn trong nông nghiệp, y dược, chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trường... tiềm năng công nghệ không tự động chuyển thành giá trị kinh tế”, PGS.TS Huỳnh Thành Đạt nói. Theo ông, khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến sản phẩm được thị trường chấp nhận là thách thức cần giải quyết. PGS.TS Huỳnh Thành Đạt đã gợi mở 3 định hướng trọng tâm.
Thứ nhất, tăng cường nhận thức về kinh tế sinh học và đo lường đóng góp đối với nền kinh tế. Theo đó, kinh tế sinh học mở ra khả năng khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên sinh học, kết hợp tri thức khoa học và công nghệ hiện đại để tạo ra sản phẩm giá trị gia tăng cao, góp phần phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
Thứ hai, gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và nhu cầu thị trường. Theo PGS.TS Huỳnh Thành Đạt, đưa kết quả nghiên cứu ra khỏi phòng thí nghiệm đòi hỏi thời gian, sự hoàn thiện công nghệ, thử nghiệm, đánh giá chất lượng và nguồn lực đầu tư đáng kể. Giá trị của kết quả nghiên cứu không chỉ nằm ở tính mới về khoa học, mà còn ở khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn và tạo giá trị cho sản xuất, đời sống.
“Muốn rút ngắn khoảng cách này, cần tăng cường gắn kết giữa nhà khoa học, viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp và nhà đầu tư ngay từ khâu xác định hướng nghiên cứu”, PGS.TS Huỳnh Thành Đạt nói. “Cần nhìn nhận đúng tính chất và mức độ rủi ro của đầu tư cho công nghệ sinh học. Nếu thiếu nguồn lực cho giai đoạn hoàn thiện, thử nghiệm và phát triển sản phẩm, nhiều kết quả nghiên cứu có giá trị sẽ khó đi đến đích”.
Thứ ba, xây dựng hệ sinh thái kết nối cung – cầu, phát huy vai trò chủ động của doanh nghiệp. Thương mại hóa công nghệ sinh học đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên: viện nghiên cứu, trường đại học tạo ra tri thức và phát triển công nghệ; doanh nghiệp nhận diện nhu cầu, tổ chức sản xuất, đưa sản phẩm ra thị trường; các tổ chức trung gian kết nối đối tác và thúc đẩy chuyển giao.
PGS.TS Huỳnh Thành Đạt cho rằng sự liên kết này phải tạo ra kết quả thực chất, không dừng ở trao đổi thông tin hay ký kết hợp tác. Doanh nghiệp cần chủ động đặt hàng, đồng hành cùng nhà khoa học; nhà khoa học cần quan tâm đến khả năng chuyển giao và nhu cầu người sử dụng, từ đó hình thành hệ sinh thái kinh tế sinh học có khả năng huy động nguồn lực xã hội và nâng cao sức cạnh tranh của công nghệ sinh học Việt Nam.
“Phát triển kinh tế sinh học đòi hỏi tầm nhìn dài hạn, năng lực khoa học và công nghệ, nguồn lực đầu tư và sự phối hợp giữa các chủ thể”, PGS.TS Huỳnh Thành Đạt nhấn mạnh.
MỤC TIÊU CÔNG NGHỆ SINH HỌC ĐÓNG GÓP 10 - 15% GDP VIỆT NAM NĂM 2045
Sự cần thiết phải đẩy mạnh lĩnh vực kinh tế sinh học tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đã được nhiều chuyên gia kinh tế và nhà quản lí khoa học công nghệ đặc biệt nhấn mạnh. Mô hình tăng trưởng dựa trên thâm dụng vốn, lao động giá rẻ và tài nguyên thô đang dần chạm tới ngưỡng giới hạn, đòi hỏi nền kinh tế phải chuyển dịch mô hình sang chiều sâu, dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng cao.

Bà Lê Thị Khánh Vân, Phó Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Kinh tế sinh học chính là lời giải tối ưu cho bài toán này, bởi nó vừa giải quyết được áp lực về an ninh lương thực, y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, vừa đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về phát triển xanh và giảm phát thải ròng. Theo khuyến nghị từ các chuyên gia đầu ngành, để khơi thông nguồn lực này, Việt Nam cần có những chính sách đặc thù nhằm thúc đẩy mạnh mẽ quá trình thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu sinh học, coi doanh nghiệp là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, đồng thời thiết lập các hành lang pháp lí thông thoáng để thu hút các quỹ đầu tư mạo hiểm vào lĩnh vực công nghệ sinh học rủi ro cao nhưng tiềm năng lợi nhuận lớn.
Theo báo cáo từ các tổ chức quốc tế như OECD và Diễn đàn Kinh tế Sinh học Thế giới, quy mô nền kinh tế sinh học toàn cầu hiện đạt khoảng 5 nghìn tỉ USD, và dự báo sẽ tăng trưởng vượt bậc hướng tới mốc 30 nghìn tỉ USD vào giữa thế kỷ 21 (năm 2050), chiếm gần một phần ba giá trị kinh tế toàn cầu. Tại nhiều quốc gia tiên tiến ở Châu Âu và Bắc Mỹ, kinh tế sinh học đã đóng góp từ 10% đến hơn 20% vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Đối với Việt Nam, Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới đã khẳng định rõ: Công nghệ sinh học là ngành kinh tế - kĩ thuật quan trọng, là giải pháp then chốt để xây dựng nền kinh tế xanh, tuần hoàn. Mục tiêu đã được xác định đến năm 2030, công nghệ sinh học sẽ đóng góp 7% GDP và năm 2045 là 10 - 15% vào GDP của cả nước.
Hội thảo chuyên đề: “Kinh tế sinh học và thương mại hóa công nghệ sinh học: Động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số” đã tập trung nhận diện những điểm nghẽn trong phát triển kinh tế sinh học tại Việt Nam, từ thiếu khung đo lường đóng góp vào GDP, vướng mắc pháp lý trong khai thác tài sản trí tuệ đến hạn chế kết nối cung – cầu công nghệ và nguồn vốn đầu tư giai đoạn đầu.
Các tham luận đã đề cập đến đo lường đóng góp của công nghệ sinh học, giới thiệu kết quả nghiên cứu có tiềm năng thương mại hóa, phân tích rủi ro đầu tư và đề xuất giải pháp phát triển hệ sinh thái kết nối công nghệ. Phiên thảo luận với sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp sẽ tập trung tìm giải pháp thúc đẩy chuyển giao công nghệ sinh học từ phòng thí nghiệm ra thị trường.

