Kinh tế sự kiện: Trụ cột mới của công nghiệp văn hóa Bài cuối: Hoàn thiện hệ sinh thái để công nghiệp văn hóa bứt phá

Danh hiệu 'Thành phố sáng tạo' của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) cùng những cơ chế đặc thù từ Luật Thủ đô năm 2026 đang mở ra cơ hội để Hà Nội bứt phá trong phát triển công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, lợi thế về di sản, con người và thị trường sẽ khó chuyển hóa thành động lực tăng trưởng nếu thiếu một hệ sinh thái phát triển đồng bộ. Điều quan trọng không chỉ là đầu tư thêm nguồn lực mà trước hết phải đổi mới tư duy phát triển, hoàn thiện thể chế và kết nối các nguồn lực sáng tạo thành chuỗi giá trị bền vững.

Biểu diễn nghệ thuật tại không gian văn hóa Nhà Bát Giác, Vườn hoa Tượng đài Vua Lý Thái Tổ (phường Hoàn Kiếm). Ảnh: Hoàng Lân

Biểu diễn nghệ thuật tại không gian văn hóa Nhà Bát Giác, Vườn hoa Tượng đài Vua Lý Thái Tổ (phường Hoàn Kiếm). Ảnh: Hoàng Lân

Chuyển tư duy từ “làm thay” sang “kiến tạo”

Theo Nghệ sĩ nhân dân Vương Duy Biên, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam, điều cốt lõi hiện nay là phải thay đổi tư duy quản lý. Nhà nước cần chuyển từ cách làm thay sang vai trò kiến tạo, xây dựng thể chế và tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp, nghệ sĩ và các chủ thể sáng tạo tham gia đầu tư, khai thác giá trị văn hóa. Khi các nguồn lực xã hội được khơi thông, công nghiệp văn hóa mới có điều kiện phát triển đúng với bản chất của một ngành kinh tế, thay vì chỉ dựa vào “bầu sữa” ngân sách.

Thực tiễn tại nhiều quốc gia châu Á cho thấy, sự bứt phá của công nghiệp văn hóa đều đến từ bước ngoặt tư duy này. Hàn Quốc không đưa K-pop hay điện ảnh vươn ra thế giới bằng những chiến dịch đơn lẻ, mà bằng chiến lược quốc gia với sự đồng hành chặt chẽ giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Trong khi đó, Nhật Bản tập trung xây dựng thương hiệu “Cool Japan”, đưa anime (phim hoạt hình), manga (truyện tranh)... trở thành ngành công nghiệp nội dung có giá trị toàn cầu. Còn tại Trung Quốc, việc hình thành các khu công nghiệp sáng tạo, quỹ hỗ trợ và hệ sinh thái nội dung số cũng đang đưa công nghiệp văn hóa trở thành một trong những động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.

Điểm chung của các mô hình thành công này không nằm ở việc đổ nhiều vốn hơn, mà ở cách tổ chức thị trường. Trong đó, Nhà nước tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh; doanh nghiệp đảm nhận vai trò đầu tư, sáng tạo và thương mại hóa. Các lĩnh vực được kết nối thành một chuỗi giá trị khép kín từ ý tưởng, sản xuất, truyền thông, phân phối đến tiêu dùng, giúp giá trị văn hóa không dừng lại ở một vài sự kiện mà liên tục gia tăng, lan tỏa qua nhiều ngành kinh tế khác.

Từ góc độ nghiên cứu chính sách, TS Lê Thị Việt Hà, chuyên gia văn hóa doanh nghiệp (Viện Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội) nhận định, ưu tiên lớn nhất hiện nay là cần xây dựng một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa hoàn chỉnh. Đối với Thủ đô, Hà Nội cần hoàn thiện cơ chế hợp tác công - tư, hình thành các quỹ đầu tư cho sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp văn hóa và phát triển những không gian thử nghiệm để các sản phẩm mới có cơ hội tiếp cận thị trường. Đồng thời, thành phố cần tập trung vào những lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh như kinh tế sự kiện, điện ảnh, thiết kế sáng tạo, du lịch văn hóa và nghệ thuật biểu diễn để hình thành các cụm công nghiệp văn hóa có khả năng thu hút đầu tư, xây dựng thương hiệu và tạo sức lan tỏa quốc tế.

Tổ chức lại các nguồn lực theo hướng liên kết

Để công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng, điều quan trọng hơn là phải tổ chức lại các nguồn lực theo hướng liên kết thay vì phát triển riêng lẻ. Từ thực tiễn quản lý và khai thác di sản, TS Lê Xuân Kiêu, Giám đốc Trung tâm Hoạt động văn hóa, khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám cho rằng, thay vì phát triển từng điểm đến riêng lẻ, Hà Nội cần kết nối mạng lưới di sản, bảo tàng, làng nghề, không gian sáng tạo, nghệ thuật biểu diễn và ẩm thực sẵn có thành những tuyến, cụm và hệ sinh thái trải nghiệm hoàn chỉnh có khả năng giữ chân du khách, từ đó kéo dài thời gian trải nghiệm và gia tăng giá trị tiêu dùng. Khi đó, mỗi điểm đến không chỉ phát huy giá trị riêng mà còn bổ trợ cho nhau, tạo nên sức hấp dẫn tổng thể của Thủ đô như một điểm đến văn hóa.

Theo TS Lê Xuân Kiêu, cùng với việc tăng cường liên kết, cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu số và các phương thức trình diễn hiện đại nhằm nâng cao trải nghiệm của công chúng, nhưng phải bảo đảm tôn trọng giá trị gốc của di sản. Công nghệ không thay thế di sản mà cần làm cho di sản trở nên gần gũi hơn, hấp dẫn hơn và có khả năng tiếp cận nhiều nhóm công chúng hơn, đặc biệt là thế hệ trẻ và du khách quốc tế. Đồng thời, mỗi di sản cần kể được câu chuyện riêng trên nền tảng những giá trị đặc sắc vốn có; như với Văn Miếu - Quốc Tử Giám, đó là truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và trọng dụng hiền tài.

Nhìn rộng hơn, đây chính là cách nhiều quốc gia phát triển công nghiệp văn hóa đã lựa chọn. Từ một điểm đến văn hóa có thể phát triển thành sản phẩm du lịch, thiết kế sáng tạo, xuất bản, điện ảnh, biểu diễn nghệ thuật, quà tặng lưu niệm hay các sản phẩm số. Khi đó, mỗi mắt xích đều tạo thêm giá trị cho mắt xích còn lại, hình thành một hệ sinh thái sáng tạo vận hành liên tục thay vì phụ thuộc vào từng sự kiện riêng lẻ. Đối với Hà Nội, lợi thế cạnh tranh không nằm ở việc có nhiều di sản hơn các địa phương khác mà ở khả năng kết nối những di sản ấy với các ngành công nghiệp sáng tạo, du lịch, công nghệ và dịch vụ hiện đại.

Bên cạnh đó, Hà Nội có lợi thế lớn về không gian phố cổ, tiềm năng ẩm thực và các hoạt động văn hóa nghệ thuật về đêm. Các hoạt động này cần phải sôi động hơn, trải nghiệm đa dạng hơn và đặc biệt phải chú trọng khâu truyền thông. Truyền thông phải khiến công chúng thấy rằng, phố đêm Hà Nội có những điều vô cùng đặc biệt, tương tự như sức hút của các trận đấu bóng đá World Cup, khiến người ta sẵn sàng thức đêm để xem.

Đột phá thể chế, mở đường cho các nguồn lực xã hội hóa

Triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới. Theo Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội Phạm Tuấn Long, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW, nhất là đối với những lĩnh vực mới như công nghiệp văn hóa, kinh tế di sản, hợp tác công - tư trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch; ban hành, bổ sung hướng dẫn các văn bản chuyên ngành phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Cùng với đó là hướng dẫn thống nhất về khung dữ liệu, tiêu chuẩn, quy chuẩn, cấu trúc dữ liệu, phương thức kết nối, chia sẻ dữ liệu trong lĩnh vực văn hóa. Đồng thời, sớm ban hành bộ tiêu chí đánh giá mức độ phát triển văn hóa và đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa vào tăng trưởng kinh tế.

Cùng quan điểm trên, Nghệ sĩ nhân dân Vương Duy Biên cho rằng, để hệ sinh thái công nghiệp văn hóa vận hành hiệu quả, ngoài tư duy và mô hình tổ chức, phải có một khung thể chế đủ thông thoáng, minh bạch và ổn định để khơi thông các nguồn lực đầu tư, tạo động lực cho doanh nghiệp đồng hành cùng Nhà nước. “Muốn doanh nghiệp tư nhân yên tâm và hào hứng đầu tư vào văn hóa, Nhà nước cần có cơ chế ưu đãi thuế rõ ràng. Một doanh nghiệp mỗi năm nộp thuế âm thầm 100 tỷ đồng, xã hội ít ai biết tới. Nhưng nếu có chính sách cho phép họ dùng 50 tỷ đồng trong số đó để đầu tư làm văn hóa và được miễn trừ thuế tương ứng, họ sẽ ưu tiên chọn làm văn hóa. Qua đó, thương hiệu, logo của họ được xuất hiện rộng rãi, tạo dựng uy tín tốt hơn với xã hội. Đây là cơ chế mà Nhà nước, người dân và doanh nghiệp đều có lợi”, Nghệ sĩ nhân dân Vương Duy Biên phân tích.

Từ góc độ phát triển kinh tế thể thao, PGS.TS Đinh Quang Ngọc, Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ thể dục, thể thao (Trường Đại học Thể dục, thể thao Bắc Ninh) cho rằng, cần sớm hoàn thiện cơ chế hợp tác công - tư trong khai thác các thiết chế thể thao và văn hóa theo hướng phân định rõ vai trò: Nhà nước tập trung vào quy hoạch, quản lý mục đích sử dụng đất, ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật và giám sát; doanh nghiệp được lựa chọn thông qua đấu thầu công khai để đảm nhận khai thác, vận hành thương mại theo mô hình O&M (kinh doanh và bảo trì). Nguồn thu từ hoạt động khai thác tiếp tục được tái đầu tư cho phát triển thể thao học đường, thể thao thành tích cao cũng như nâng cấp các thiết chế văn hóa, thể thao.

Mục tiêu cuối cùng của việc hoàn thiện thể chế không chỉ là huy động thêm nguồn lực ngoài ngân sách, mà còn hình thành một phương thức quản trị mới. Khi Nhà nước chuyển mạnh sang vai trò kiến tạo, doanh nghiệp phát huy năng lực tổ chức và vận hành, còn cộng đồng sáng tạo được tạo điều kiện tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, mỗi thiết chế sẽ trở thành hạt nhân của hệ sinh thái sáng tạo. Đó cũng là con đường để các công trình như: Sân vận động Hùng Vương, Nhà hát Ngọc Trai (Opera Hà Nội) hay những không gian văn hóa mới không chỉ phục vụ các sự kiện định kỳ mà trở thành những tổ hợp đa chức năng hoạt động quanh năm, tạo ra dòng chảy liên tục của các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao và tiêu dùng, lan tỏa sức sống mới cho kinh tế đô thị.

Nhóm phóng viên

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/kinh-te-su-kien-tru-cot-moi-cua-cong-nghiep-van-hoa-bai-cuoi-hoan-thien-he-sinh-thai-de-cong-nghiep-van-hoa-but-pha-1213444.html