KINH TẾ VIỆT NAM 2025: CỦNG CỐ ĐIỂM SÁNG, HÓA GIẢI LỰC CẢN, TẠO NỀN TẢNG PHÁT TRIỂN TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
Năm 2025, nền kinh tế Việt Nam thể hiện khả năng phục hồi kiên cường. Mặt bằng tăng trưởng mới đang dần hình thành với chất lượng được cải thiện trong môi trường đầy biến động. Với quyết tâm cải cách, sự linh hoạt chính sách và tinh thần phục hồi mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng Việt Nam có thể bước sang một thập niên tăng trưởng mới, vững vàng hơn, bền bỉ hơn và có sức cạnh tranh cao hơn.

Năm 2025, kinh tế Việt Nam diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục phục hồi chậm, tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn. Tăng trưởng toàn cầu có cải thiện song thiếu đồng đều; lạm phát tuy được kiểm soát nhưng vẫn gây áp lực lên chi phí sản xuất; chính sách tiền tệ tại các nền kinh tế lớn duy trì trạng thái thận trọng. Cùng với đó, căng thẳng địa chính trị, xung đột thương mại và những gián đoạn cục bộ của chuỗi cung ứng tiếp tục ảnh hưởng đến thương mại và đầu tư quốc tế.
Trong nước, nền kinh tế vừa thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, vừa triển khai sắp xếp lại đơn vị hành chính, tinh gọn bộ máy và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, qua đó tạo tiền đề nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời phát sinh những yêu cầu mới trong công tác điều hành, tổ chức thực hiện và phân bổ nguồn lực. Đặc biệt, nền kinh tế phải đối mặt với thiên tai lịch sử, gây hậu quả nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống.
Trong bối cảnh đó, việc duy trì đà phục hồi, bảo đảm hoạt động kinh tế - xã hội thông suốt và nâng cao chất lượng tăng trưởng được xác định là nhiệm vụ xuyên suốt của năm 2025.
Giữ vững ổn định vĩ mô giữa dòng chảy biến động và những thách thức nội tại
Năm 2025, nền kinh tế thể hiện khả năng phục hồi kiên cường, lạm phát bình quân được kiểm soát ở mức 3,31%; tỷ giá và lãi suất tương đối ổn định, tạo đà cho sản xuất, xuất khẩu và đầu tư phát triển.
Đây chính là "tấm khiên vững chắc" để nền kinh tế đứng vững trước những cơn sóng biến động từ bên ngoài. Ổn định vĩ mô chính là điểm tựa, bảo vệ nền kinh tế, giúp Việt Nam đứng vững trước những cơn sóng lớn của cú sốc thiên tai và biến động toàn cầu.
Những điểm sáng của nền kinh tế
Dù phải chống chọi với thiên tai lịch sử miền Trung, sức mua suy yếu và tác động của các cú sốc đầu năm, kinh tế Việt Nam vẫn xuất hiện những điểm sáng đáng chú ý.
Mặt bằng tăng trưởng mới đang dần hình thành với chất lượng được cải thiện trong môi trường đầy biến động.
Những tín hiệu tích cực của nền kinh tế trong năm 2025, từ xuất khẩu phục hồi, đạt dấu mốc mới về tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu; sản xuất công nghiệp cải thiện, đầu tư công có trọng tâm, tín dụng mở rộng, đến việc khởi động các động lực của tam giác tăng trưởng mới: kinh tế xanh - kinh tế số - kinh tế tri thức cho thấy nền kinh tế đang cố gắng giữ nhịp trong bối cảnh "nhiều lực cản".
Những điểm sáng này cần được nhìn nhận không chỉ là thành tựu, mà còn như phép thử cho khả năng chống chịu, độ chính xác của chính sách và năng lực điều hành kinh tế vĩ mô trong bối cảnh mới.
Công nghiệp chế biến, chế tạo dần lấy lại vai trò động lực tăng trưởng. Năm 2025, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo từng bước thoát khỏi giai đoạn suy yếu, chuyển sang quỹ đạo phục hồi và mở rộng có chọn lọc.
Nửa đầu năm, hoạt động sản xuất gặp nhiều khó khăn do cầu thị trường phục hồi chậm, đơn hàng xuất khẩu tăng thấp, trong khi chi phí đầu vào và logistics vẫn ở mức cao so với khả năng hấp thụ của doanh nghiệp. Năng lực phục hồi phụ thuộc nhiều vào điều kiện bên ngoài, sức chống chịu còn hạn chế của doanh nghiệp trước các cú sốc chi phí và thị trường.
Trong 6 tháng đầu năm 2025, chỉ số PMI ngành công nghiệp chế biến, chế tạo phần lớn dao động dưới ngưỡng 50 điểm, phản ánh trạng thái thu hẹp và giằng co phục hồi sản xuất. Đặc biệt chỉ số PMI tháng tư giảm sâu xuống mức 45,6 điểm.
Tuy nhiên, từ giữa năm, hoạt động sản xuất quay lại trạng thái mở rộng, với động lực đến từ sự gia tăng đơn hàng mới, chuỗi cung ứng ổn định hơn, niềm tin kinh doanh được củng cố. Chỉ số PMI tháng 7 đạt 52,4 điểm bắt đầu vượt ngưỡng 50 điểm và duy trì trên 50 điểm trong các tháng tiếp theo.
Đặc biệt, trong quý IV/2025 ghi nhận sự phục hồi rõ nét nhất của ngành chế biến, chế tạo khi sản lượng và đơn hàng mới tăng nhanh; niềm tin kinh doanh đạt mức cao nhất trong gần hai năm qua, tạo kỳ vọng tích cực về triển vọng năm 2026. Chỉ số PMI của 3 tháng trong quý này đạt từ 53 điểm đến 54,5 điểm.
Năm 2025 phản ánh sự dần trở lại vai trò động lực tăng trưởng của ngành chế biến, chế tạo. Tuy vậy sự phục hồi chưa vững chắc; động lực tăng trưởng đến chủ yếu từ nhu cầu thực của nền kinh tế, thay vì các giải pháp kích cầu ngắn hạn; chất lượng phục hồi được cải thiện qua sự gia tăng đơn hàng, sản lượng và niềm tin doanh nghiệp.
Ngành chế biến, chế tạo vẫn chưa bước vào giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ, mà mới ở giai đoạn mở rộng vừa phải, dễ bị tổn thương nếu môi trường bên ngoài xấu đi.
Niềm tin kinh doanh và kỳ vọng phục hồi được củng cố. Trong năm 2025 có 297,4 nghìn doanh nghiệp gia nhập thị trường, trong đó có 195,1 nghìn doanh nghiệp thành lập mới. Bên cạnh đó có 227,2 nghìn doanh nghiệp rút khỏi thị trường.
Điều này phản ánh động lực gia nhập thị trường được duy trì và cải thiện rõ rệt. Với 297,4 nghìn doanh nghiệp gia nhập thị trường, cao nhất từ trước đến nay và gấp 1,31 lần số doanh nghiệp rút lui có thể khẳng định niềm tin kinh doanh và kỳ vọng phục hồi của khu vực tư nhân đã được củng cố.
Việc hơn 102,3 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động phản ánh môi trường kinh doanh và triển vọng thị trường đã đủ tích cực để kích hoạt các quyết định tái gia nhập, phản ánh tác động lan tỏa của ổn định kinh tế vĩ mô và các nỗ lực cải cách thể chế.
Cùng với đó, áp lực thanh lọc vẫn hiện hữu. Số doanh nghiệp rút khỏi thị trường ở mức cao cho thấy quá trình phục hồi chưa đồng đều, nhiều doanh nghiệp quy mô nhỏ, năng lực tài chính hạn chế vẫn gặp khó khăn trước sức ép chi phí, thị trường và cạnh tranh.
Đặc biệt, vốn đăng ký bình quân của doanh nghiệp mới thành lập ở mức 9,8 tỷ đồng, tương đương với năm 2024 phản ánh xu hướng khởi sự kinh doanh thận trọng, quy mô nhỏ, doanh nghiệp ưu tiên "tham gia thị trường trước, mở rộng sau", đồng thời cũng đặt ra yêu cầu nâng cao khả năng tiếp cận vốn và hỗ trợ doanh nghiệp lớn lên.
Thông tin về đăng ký doanh nghiệp năm 2025 phản ánh bức tranh hai mặt, vừa tích cực về số lượng, vừa đặt ra vấn đề về chất lượng và sức bền của khu vực doanh nghiệp.
Kinh tế nước ta năm 2025 đang phục hồi theo chiều rộng, với sức bật về số lượng doanh nghiệp, song chất lượng tăng trưởng của khu vực doanh nghiệp cần được củng cố tạo nền tảng bền vững cho giai đoạn 2026-2030.

Dấu mốc lịch sử của thương mại hàng hóa quốc tế. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu năm 2025 ước đạt 930,05 tỷ USD - kỷ lục chưa từng có trong lịch sử hội nhập kinh tế quốc tế, có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh thương mại toàn cầu phục hồi yếu, rủi ro địa chính trị, địa kinh tế gia tăng. Mức tăng 18,2% so với năm trước cho thấy thương mại hàng hóa quốc tế tiếp tục là một trong những trụ cột quan trọng của tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Kết quả này phản ánh khả năng duy trì dòng chảy hàng hóa và vị thế ngày càng rõ của Việt Nam trong mạng lưới thương mại toàn cầu. Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tiếp tục phát huy hiệu quả, giúp hàng hóa Việt Nam giữ được thị phần tại các thị trường chủ lực như Mỹ, EU. Đồng thời, Việt Nam vẫn là điểm đến quan trọng trong chiến lược tái cấu trúc chuỗi cung ứng của nhiều tập đoàn đa quốc gia.
Kim ngạch xuất khẩu cả năm 2025 ước đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17%so với năm trước. Nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò chủ lực, đặc biệt là điện tử, máy móc, thiết bị, dệt may, da giày và đồ gỗ.
Bên cạnh đó, xuất khẩu nông, lâm thủy sản nổi lên như một điểm sáng quan trọng. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt 8,56 tỷ USD, tăng 19,82%, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 11,28 tỷ USD, tăng 12,4% so với năm trước.
Đây không chỉ là sự phục hồi mang tính chu kỳ, mà còn phản ánh những cải thiện thực chất về năng lực chế biến, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng tiêu chuẩn xanh.
Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,03 tỷ USD, trong đó, khu vực FDI xuất siêu 49,46 tỷ USD; khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 29,43 tỷ USD. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu phản ánh khả năng chống chịu đáng kể của nền kinh tế trước các cú sốc toàn cầu và sức mạnh của nền kinh tế mở, Mỹ áp dụng thuế quan đối ứng.
Điểm sáng không chỉ nằm ở số lượng mà còn ở chất lượng khi các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, điện tử và linh kiện đang chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu.
Đầu tư công bứt phá, hiệu quả đầu tư chưa tương xứng. Đầu tư công tiếp tục bứt phá, với nhiều dự án hạ tầng chiến lược được đẩy nhanh tiến độ, sớm đưa vào sử dụng, đạt kỷ lục về rút ngắn thời gian thi công, tạo hiệu ứng lan tỏa đến các ngành vật liệu xây dựng, logistics, năng lượng và dịch vụ.
Vốn đầu tư công thực hiện cả năm ước đạt 850,7 nghìn tỷ đồng, bằng 83,6% kế hoạch năm và tăng 26,6% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam ước đạt 27,62 tỷ USD, cao nhất trong 5 năm qua, tăng 9 % so với cùng kỳ năm trước.
Tuy nhiên, tốc độ giải ngân chưa đi cùng với hiệu quả. Nhiều dự án còn dàn trải, chưa tập trung vào các trụ cột chiến lược, cơ chế phối hợp với khu vực tư nhân chưa thực sự hấp dẫn.
Trong bối cảnh thiên tai, biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, đầu tư công cần ưu tiên chất lượng, tính bền vững và khả năng lan tỏa, cần tập trung vào các lĩnh vực trọng điểm như hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu, năng lượng xanh và hạ tầng số - những yếu tố sẽ quyết định sức sống bền vững dài hạn của nền kinh tế trong thập niên tới. Đầu tư công bứt tốc mà thiếu chất lượng sẽ chỉ tạo ra tăng trưởng ngắn hạn, nhưng không đủ để hình thành năng lực dài hạn và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Đột phá thể chế cho phát triển kinh tế. Năm 2025 được coi là năm đột phá về thể chế cho phát triển kinh tế vì đây là thời điểm chuyển mạnh từ hoàn thiện khung khổ pháp lý sang tổ chức thực thi đồng bộ và thực chất. Trong bối cảnh dư địa chính sách tài khóa, tiền tệ thu hẹp, cải cách thể chế trở thành đòn bẩy then chốt để khơi thông nguồn lực, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao năng suất.
Cùng với đó, việc sắp xếp lại đơn vị hành chính và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp tạo điều kiện tinh gọn bộ máy, rút ngắn quy trình, nâng cao hiệu lực điều hành và thực thi chính sách kinh tế. Trọng tâm cải cách hướng vào phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực, đơn giản hóa thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng, qua đó giảm chi phí tuân thủ và rủi ro cho doanh nghiệp.
Năm 2025 không chỉ là năm tiếp tục cải cách thể chế, mà là thời điểm tạo bước chuyển từ cải cách từng phần sang cải cách mang tính hệ thống, lĩnh vực thể chế nổi lên như một trụ cột cải cách mang tính định hướng dài hạn, đặt nền tảng thể chế cho tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn tiếp theo.
Ngày 4/7/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg quy định rõ các tiêu chí môi trường và quá trình xác nhận các dự án đầu tư thuộc danh mục xanh.
Với Quyết định này, lần đầu tiên Việt Nam có một khung pháp lý đầu tư xanh tương đối đồng bộ, đánh dấu bước chuyển quan trọng về tư duy từ phát triển bằng mọi giá sang tăng trưởng có trách nhiệm, tăng trưởng xanh.
Việc ban hành khung pháp lý cho đầu tư xanh và chuẩn bị thành công lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán không chỉ tạo động lực mới cho dòng vốn đầu tư, mà còn khẳng định bản lĩnh thể chế Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa nền kinh tế.

Ba động lực tăng trưởng dài hạn và vai trò của Chính phủ. Trong năm 2025, Chính phủ đã từng bước tạo dựng nền tảng cho phát triển kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tri thức.
Các cam kết về tăng trưởng xanh và chuyển dịch năng lượng được cụ thể hóa thông qua hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích sản xuất sạch, tiết kiệm năng lượng và đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường trong thương mại quốc tế.
Cùng với đó, chuyển đổi số được đẩy mạnh trong khu vực công và khu vực ngoài nhà nước, góp phần giảm chi phí, nâng cao hiệu quả điều hành và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Đồng thời, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tiếp tục được xác định là nền tảng để vượt qua giới hạn của mô hình tăng trưởng cũ, tạo động lực phát triển dài hạn.
Năm 2025 là năm Chính phủ đặt nền móng quan trọng cho chuyển đổi mô hình tăng trưởng, trong đó kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tri thức không còn là khẩu hiệu, mà từng bước trở thành trục định hướng chính sách. Tuy nhiên, kết quả mới ở giai đoạn khởi tạo;
thách thức lớn của giai đoạn 2026-2030 là chuyển từ "thiết kế chính sách" sang "tạo đột phá thực chất" về năng suất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh.

Động lực tiêu dùng ổn định, chưa tạo đột phá cho tăng trưởng
Bên cạnh những điểm sáng, nền kinh tế vẫn đang đối mặt với sức mua phục hồi rất chậm, sức khỏe của thị trường còn mong manh.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025 tăng 6,7%, tương đương mức tăng của năm 2024, cho thấy sức mua của thị trường trong nước còn yếu dưới tác động kép của thiên tai lịch sử miền Trung và hạn chế tài chính của các hộ gia đình.
Đây là dấu hiệu cảnh báo về "độ mỏng" của thị trường tiêu dùng trong nước - trụ cột quan trọng từng giúp nền kinh tế chống chọi với các cú sốc, chưa đủ vững để duy trì tăng trưởng.
Sự ổn định của tiêu dùng trong nước phản ánh thu nhập của hộ gia đình chưa phục hồi hoàn toàn, khiến người dân ưu tiên chi tiêu các mặt hàng thiết yếu, làm chậm đà tăng tiêu dùng dịch vụ, du lịch và hàng hóa cao cấp. Cùng với đó, thiên tai còn gây gián đoạn chuỗi cung ứng, làm tăng chi phí sinh hoạt, khiến sức mua tăng chậm hơn mức bình thường.
Từ góc nhìn chính sách, có thể nhận thấy để tiêu dùng trở thành trụ cột bền vững cần được hỗ trợ bằng các giải pháp tăng thu nhập thực, mở rộng an sinh xã hội, giảm chi phí sinh hoạt và cải thiện niềm tin tiêu dùng, thay vì chỉ dựa vào các chương trình khuyến mãi hoặc giảm thuế tạm thời.
Nếu không kịp thời điều chỉnh, yếu tố này có thể hạn chế hiệu quả của các chính sách hỗ trợ xuất khẩu và đầu tư công, đồng thời ảnh hưởng đến đà tăng trưởng kinh tế trong những năm tới.

Đóng góp của thương mại hàng hóa quốc tế cho tăng trưởng kinh tế suy giảm
Năm 2025, ghi dấu ấn cán cân thương mại hàng hóa thặng dư liên tiếp trong 10 năm qua. Tuy vậy, giai đoạn 2023-2025 cho thấy xu hướng tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng nhanh, nhưng xuất siêu giảm dần.
Năm 2023, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 681,3 tỷ USD, xuất siêu 28,11 tỷ USD; năm 2024 tổng kim ngạch tăng 15,5%, xuất siêu giảm xuống 24,94 tỷ USD; năm 2025 tổng kim ngạch tăng 17 %, xuất siêu giảm xuống 20,03 tỷ USD, chỉ bằng 80,31% mức xuất siêu của năm 2024. Tỷ lệ xuất siêu so với tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu liên tục suy giảm, từ 4,12% năm 2023 xuống 3,17% năm 2024 và 2,15% năm 2025.
Xuất siêu thu hẹp trong khi tổng kim ngạch liên tục lập mốc mới trong những năm qua cho thấy tăng trưởng thương mại hàng hóa quốc tế đang nhanh hơn khả năng tích lũy giá trị ròng của nền kinh tế, đóng góp của hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa vào quy mô và tốc độ tăng GDP giảm dần trong ba năm qua. Kỷ lục về quy mô chỉ là dấu mốc, không phải đích đến của chiến lược tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu.
Đặc biệt, xuất siêu thu hẹp cho thấy nền kinh tế đang tiến gần ngưỡng của mô hình tăng trưởng thương mại quốc tế hiện tại.
Kỷ lục kim ngạch gia tăng nhưng tỷ lệ xuất siêu so với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu suy giảm đặt ra yêu cầu phải đánh giá lại nội hàm tăng trưởng thương mại hàng hóa quốc tế.
Quy mô kim ngạch lớn hơn không đồng nghĩa với hiệu quả cao hơn, nhất là khi các chỉ báo về chất lượng tăng trưởng đang cho thấy những dấu hiệu cần phải nhìn nhận thẳng thắn.
Kỷ lục 930,05 tỷ USD cho thấy sức bật của thương mại Việt Nam, nhưng cũng là thời điểm cần đánh giá lại chất lượng tăng trưởng thương mại hàng hóa quốc tế.
Thương mại hàng hóa quốc tế của Việt Nam phụ thuộc vào một số ít thị trường. Thị trường Mỹ chiếm tới 32,2% tổng kim ngạch xuất khẩu, xuất siêu sang thị trường Mỹ đạt 133,9 tỷ USD, tăng 28,3%. Nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm 40,87% tổng kim ngạch nhập khẩu; nhập siêu từ Trung Quốc ở mức 115,6 tỷ USD, tăng 39,6%.
Thực trạng này đưa ra một vài cảnh báo: rủi ro tập trung thị trường xuất khẩu ở mức cao. Chỉ một thay đổi chính sách từ thị trường Mỹ có thể tác động lan tỏa đến toàn bộ nền kinh tế Việt Nam; phụ thuộc quá sâu vào nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào từ Trung Quốc.
Khi đầu vào “bị khóa” ở thị trường này, khả năng ứng phó với gián đoạn chuỗi cung ứng và biến động địa chính trị rất hạn chế; nguy cơ bị cuốn vào cạnh tranh chiến lược và các biện pháp phòng vệ thương mại; thách thức đối với mục tiêu phát triển bền vững và tự chủ của nền kinh tế.
Nếu không tái cấu trúc mạnh mẽ, Việt Nam có nguy cơ rơi vào “bẫy thương mại trung gian”, xuất khẩu nhiều nhưng phụ thuộc lớn, kim ngạch tăng trưởng cao nhưng dễ bị tổn thương.
Tín dụng tăng cao, chưa tạo bứt phá cho tăng trưởng kinh tế.Tín dụng toàn nền kinh tế đến cuối tháng 12/2025 đã vượt 18,4 triệu tỷ, tăng 17,87 % so với cuối năm 2024, vượt mục tiêu tăng 16% của cả năm 2024.
Đây là mức tăng trưởng khá cao, phản ánh nỗ lực mở rộng dòng vốn vào sản xuất kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều bất định.
Trong đó khoảng 69,8% tổng tín dụng chảy vào khu vực dịch vụ, 24% vào khu vực công nghiệp và xây dựng, 6,2% vào khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản.
Cơ cấu tín dụng tạo ra sự lệch pha giữa các ngành và động lực tăng trưởng; khu vực sản xuất vật chất - nền tảng nâng cao năng lực sản xuất và xuất khẩu chưa được tiếp sức đúng mức.
Điều này cảnh báo dòng vốn chưa thực sự chảy vào các lĩnh vực hiệu quả như công nghệ, đổi mới sáng tạo hay nâng cao năng suất. Tỷ trọng tín dụng vào nông nghiệp còn thấp so với tiềm năng của khu vực này đối với xuất khẩu nông, thủy sản, an ninh lương thực.
Nếu không điều chỉnh cơ chế phân bổ, tín dụng tăng cao có thể tạo ra bong bóng tài sản hoặc lãng phí nguồn lực, thay vì thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Mức tín dụng tăng cao vượt quá khả năng hấp thụ thực tế của nền kinh tế đưa đến nguy cơ lệch pha giữa tốc độ tăng vốn và hiệu quả tăng trưởng.

Năm 2026: Củng cố niềm tin, kiến tạo quỹ đạo, thúc đẩy tăng trưởng cao, bền vững
Năm 2026 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm, phân hóa mạnh, thương mại toàn cầu chịu tác động gia tăng của bảo hộ, xung đột địa chính trị và các chuẩn mực phát triển xanh, số.
Dự báo, động lực tăng trưởng của kinh tế thế giới đến từ quá trình chuyển dịch công nghệ do trí tuệ nhân tạo dẫn dắt; quá trình tái cấu trúc các chuỗi giá trị toàn cầu, đưa các nền kinh tế mới nổi lên những vị trí mới; quá trình chuyển dịch năng lượng đang thúc đẩy một chu kỳ đầu tư mới. Tăng trưởng toàn cầu năm 2026 sẽ không đồng đều, đà tăng trưởng sẽ phải được tạo dựng thông qua cải cách, đổi mới và mở cửa.
Trong nước, nền kinh tế bước vào năm đầu tiên của giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội 2026-2030, khi dư địa tăng trưởng theo chiều rộng thu hẹp rõ rệt. Yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc thương mại và nâng cao năng lực nội sinh trở nên cấp thiết.
Đây là thời điểm cần những quyết sách mang tính chiến lược để tạo nền tảng tăng trưởng bền vững cho cả giai đoạn tới.
Với thực trạng kinh tế Việt Nam hiện nay, với độ mở lớn, đặt trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước. Thiết nghĩ, Chính phủ và các địa phương cần tập trung vào một số nhóm giải pháp sau:
Một là, phải coi cải cách thể chế là trung tâm phát triển. Nếu không cải cách mạnh, mọi mục tiêu tăng trưởng cao chỉ dừng lại ở tuyên bố. Mức tăng trưởng năm 2026 nằm ở khả năng chuyển hóa chính sách thành hành động. Nếu Chính phủ tập trung hiệu quả vào đổi mới thể chế và chuyển đổi năng suất, tốc độ tăng trưởng có thể đạt kỳ vọng. Triển vọng tăng trưởng năm 2026 khả quan trong ổn định, để tăng trưởng cao phụ thuộc rất lớn vào bứt phá trong cải cách, chuyển đổi mô hình và chất lượng điều hành.
Hai là, giữ vững ổn định vĩ mô và tín dụng. Ổn định vĩ mô và tín dụng vẫn là điều kiện tiên quyết để duy trì đà phục hồi của sản xuất. Cần chuyển trọng tâm từ "cứu trợ" sang "nâng cấp năng lực", hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Ba là, khơi thông tổng cầu trong nước, củng cố vai trò của tiêu dùng cuối cùng trong bối cảnh cầu thế giới phục hồi chậm. Triển khai chính sách tài khóa có trọng tâm nhằm hỗ trợ thu nhập và kích thích tiêu dùng bền vững; phát triển thị trường trong nước gắn với kinh tế số, thương mại điện tử và các mô hình tiêu dùng mới, qua đó tạo "bệ đỡ" tăng trưởng khi kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định.
Bốn là,tái cấu trúc thương mại hàng hóa quốc tế gắn với tái định hình chuỗi giá trị toàn cầu. Chủ động tận dụng làn sóng dịch chuyển và tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu để thu hút đầu tư chất lượng cao; chuyển mạnh từ gia công, lắp ráp sang tham gia các khâu có giá trị gia tăng cao hơn; đa dạng hóa thị trường, giảm phụ thuộc vào một số đối tác lớn, nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài.
Năm là, phát triển mạnh khu vực kinh tế trong nước để bắt kịp làn sóng chuyển dịch công nghệ do trí tuệ nhân tạo dẫn dắt. Đẩy nhanh cải cách thể chế, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tiếp cận vốn, công nghệ và dữ liệu; thúc đẩy ứng dụng Al, tự động hóa và công nghệ số trong sản xuất kinh doanh; hình thành đội ngũ doanh nghiệp nội địa có năng lực công nghệ, đủ sức tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu mới.
Sáu là, điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng linh hoạt, hướng dòng vốn vào các động lực tăng trưởng mới. Ưu tiên tín dụng cho các lĩnh vực gắn với chuyển đổi số, đổi mới công nghệ, công nghiệp hỗ trợ và các ngành liên quan đến AI; đồng thời kiểm soát chặt rủi ro, bảo đảm an toàn hệ thống tài chính trong bối cảnh chu kỳ công nghệ và đầu tư toàn cầu biến động nhanh. Điều chỉnh cơ cấu tín dụng theo các động lực nền tảng sẽ tạo nền tảng bền vững hơn cho tăng trưởng giai đoạn 2026-2030.
Bảy là, đẩy nhanh đầu tư công, dẫn dắt và kích hoạt chu kỳ đầu tư mới gắn với chuyển dịch năng lượng. Tập trung nguồn lực cho hạ tầng năng lượng, lưới điện, logistics xanh, hạ tầng số và thích ứng biến đối khí hậu; coi đầu tư công là lực kéo để huy động đầu tư tư nhân trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, công nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn.
Tám là, thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới dựa trên kinh tế xanh, kinh tế số và kinh tế tri thức. Chủ động nắm bắt ba xu hướng lớn của kinh tế thế giới qua đó tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh hơn nhưng bền vững hơn, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2026-2030.
Việc gắn kết các nhiệm vụ thúc đẩy tăng trưởng năm 2026 với ba động lực lớn của kinh tế thế giới sẽ giúp Việt Nam không chỉ phục hồi và duy trì tốc độ tăng trưởng, mà quan trọng hơn là nâng cấp vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu và tạo nền tảng cho phát triển bền vững trong thập niên tới.
Kinh tế Việt Nam đang đứng trước thời điểm bản lề, hoặc tiếp tục đi theo quán tính cũ, hoặc mạnh dạn tạo dựng một quỹ đạo tăng trưởng chất lượng cao. Với quyết tâm cải cách, sự linh hoạt chính sách và tinh thần phục hồi mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng Việt Nam có thể bước sang một thập niên tăng trưởng mới, vững vàng hơn, bền bỉ hơn và có sức cạnh tranh cao hơn./.
Nguyễn Bích Lâm
Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê.











