Kinh tế Việt Nam: Từ tăng trưởng nhanh đến cuộc chuyển đổi mô hình

Năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt đối với kinh tế Việt Nam. Đây là năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 2026-2030, đồng thời mở đầu giai đoạn thực hiện những mục tiêu dài hạn hướng tới năm 2045.

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ 10% trở lên không thể đạt được bằng tư duy và cách làm cũ. (Ảnh: Hưng Khánh)

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ 10% trở lên không thể đạt được bằng tư duy và cách làm cũ. (Ảnh: Hưng Khánh)

Đại hội XIV đặt ra yêu cầu tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên, nâng nhanh năng suất lao động, tăng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp và phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số như những động lực chủ yếu của mô hình tăng trưởng mới.

Nhìn từ mục tiêu ấy, câu chuyện kinh tế Việt Nam trong 9 tháng đầu năm không chỉ là câu chuyện của những con số tăng trưởng. Quan trọng hơn là những chuyển động đang diễn ra trong cấu trúc nền kinh tế: Đầu tư công được thúc đẩy, đầu tư tư nhân mở rộng, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục tăng, thị trường nội địa phục hồi, công nghiệp chế biến - chế tạo giữ vai trò trụ cột, trong khi Nhà nước đồng thời đẩy mạnh cải cách thể chế và đặt kinh tế tư nhân, khoa học - công nghệ vào vị trí mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên không thể đạt được bằng tư duy và cách làm cũ. Giai đoạn mới đòi hỏi đổi mới căn bản tư duy phát triển, phương thức quản trị, phân bổ nguồn lực và phân cấp, phân quyền, đồng thời phải vừa giải quyết hiệu quả những vấn đề trước mắt vừa thực hiện các cải cách chiến lược, dài hạn để chuyển đổi mô hình phát triển.

Đà tăng trưởng tích cực, nhưng khoảng cách với mục tiêu vẫn rất lớn

6 tháng đầu năm, GDP tăng 8,18% so với cùng kỳ; riêng quý II/2026 tăng 8,39%. Công nghiệp và xây dựng tăng 9,81%, dịch vụ tăng 8,09%, nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,87%. Công nghiệp chế biến, chế tạo, xây dựng, dịch vụ, xuất khẩu và du lịch đều có chuyển biến tích cực. Đây là những kết quả đáng chú ý trong bối cảnh kinh tế thế giới chịu nhiều tác động từ bất ổn địa chính trị, năng lượng và thương mại.

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 8 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 770,14 tỷ USD, tăng 28,7%, trong đó, xuất khẩu tăng 22,4%, nhập khẩu tăng 35,3%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 5.235,5 nghìn tỷ đồng, tăng 13,3%.

Vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước đạt khoảng 546,8 nghìn tỷ đồng, tăng 18,5%; tổng vốn FDI đăng ký đạt 40,63 tỷ USD, tăng 55,4%, còn FDI thực hiện đạt 17,25 tỷ USD, tăng 12%. Những con số này cho thấy, các động lực truyền thống vẫn đang hoạt động mạnh, đồng thời đầu tư và cầu trong nước có thêm vai trò.

Tuy nhiên, mức tăng trưởng 8,18% chưa đạt mục tiêu 9,7% của nửa đầu năm, và để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số cả năm thì sáu tháng cuối năm phải tăng ở mức rất cao. Bên cạnh đó, tăng trưởng chưa lan tỏa đồng đều, một số ngành sử dụng nhiều lao động còn khó khăn và thu nhập thực của người dân chưa cải thiện tương xứng.

Đây là điểm cần được nhìn thẳng. Một nền kinh tế có thể đạt tốc độ tăng trưởng cao trong một vài quý, nhưng để duy trì tốc độ cao trong nhiều năm, Việt Nam phải giải quyết những vấn đề thuộc về năng suất, công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, liên kết doanh nghiệp và hiệu quả sử dụng vốn.

4 động lực đang tạo nên một cấu trúc tăng trưởng mới

Có thể hình dung, nền kinh tế Việt Nam hiện vận hành trên bốn động lực ngày càng đan xen. Thứ nhất, khu vực tư nhân trong nước, lực lượng đông đảo nhất của cộng đồng doanh nghiệp.

Thứ hai, Nhà nước, đầu tư công và doanh nghiệp nhà nước, giữ vai trò quan trọng trong hạ tầng, năng lượng, tài chính và những lĩnh vực chiến lược.

Thứ ba, FDI và xuất khẩu, cánh tay nối Việt Nam với chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thứ tư, thị trường nội địa hơn 100 triệu dân, đang trở thành một nguồn cầu ngày càng đáng kể.

Hiện nay, các doanh nghiệp trong nước tạo ra khoảng 68% tổng doanh thu của khu vực doanh nghiệp, trong khi FDI giữ vị trí đặc biệt lớn trong xuất khẩu.

8 tháng đầu năm 2026, khu vực FDI chiếm khoảng 80,1% kim ngạch xuất khẩu. Hai con số đặt cạnh nhau cho thấy bài toán của Việt Nam không phải là lựa chọn giữa FDI và doanh nghiệp nội địa, mà là làm thế nào để hai khu vực liên kết sâu hơn, để giá trị gia tăng được giữ lại trong nước nhiều hơn.

Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) tháng 5/2026 cho rằng, động lực tăng trưởng của Việt Nam vẫn đến từ xuất khẩu, đầu tư và nền kinh tế trong nước, nhưng khả năng giữ lại nhiều giá trị hơn trong nước, tăng liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp nội địa và nâng năng suất sẽ có ý nghĩa quyết định đối với việc duy trì đà tăng trưởng trung hạn.

Thị trường nội địa không chỉ là nơi tiêu thụ sản phẩm mà còn là nơi doanh nghiệp Việt Nam tích lũy quy mô, công nghệ, thương hiệu và kinh nghiệm trước khi bước ra thị trường quốc tế. (Nguồn: TTXVN)

Thị trường nội địa không chỉ là nơi tiêu thụ sản phẩm mà còn là nơi doanh nghiệp Việt Nam tích lũy quy mô, công nghệ, thương hiệu và kinh nghiệm trước khi bước ra thị trường quốc tế. (Nguồn: TTXVN)

Từ thu hút vốn sang nâng chất lượng liên kết

Một thay đổi quan trọng trong tư duy phát triển năm 2026 là cách tiếp cận đối với FDI.

Tại Hội nghị triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu tiếp tục tạo điều kiện cho những nhà đầu tư có năng lực, công nghệ, trách nhiệm và cam kết lâu dài, nhưng đồng thời sàng lọc những dự án công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng, sử dụng đất kém hiệu quả, có nguy cơ ô nhiễm, chuyển giá hoặc lẩn tránh xuất xứ.

Điểm cốt lõi của yêu cầu này là xây dựng một quan hệ mới giữa FDI và doanh nghiệp Việt Nam: Phát triển cơ sở dữ liệu nhà cung ứng, công khai nhu cầu mua sắm và tiêu chuẩn kỹ thuật, nâng năng lực quản trị và tiêu chuẩn của doanh nghiệp nội địa, đào tạo nhà cung ứng và chuyển giao tri thức.

Theo định hướng được nêu, các dự án FDI lớn phải góp phần làm dày thêm công nghiệp hỗ trợ và giúp người Việt Nam từng bước đảm nhiệm các vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế và vận hành chuỗi cung ứng.

Nếu thực hiện được, đây sẽ là bước chuyển từ tư duy “thu hút được bao nhiêu vốn” sang câu hỏi “vốn đó tạo ra năng lực gì cho nền kinh tế”. Đây cũng là vấn đề mà các tổ chức tài chính quốc tế nhấn mạnh khi nói về yêu cầu nâng năng suất và giữ lại giá trị trong nước.

Khu công nghiệp Bắc Tiền Phong, Quảng Ninh. (Nguồn: Hateco)

Khu công nghiệp Bắc Tiền Phong, Quảng Ninh. (Nguồn: Hateco)

Đầu tư công phải trở thành 'vốn mồi'

8 tháng đầu năm nay, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước thực hiện đạt khoảng 546,8 nghìn tỷ đồng, tăng 18,5%; giải ngân theo báo cáo Chính phủ đạt gần 510 nghìn tỷ đồng, tương đương 49,8% kế hoạch. Những con số này cho thấy đầu tư công đang được đẩy nhanh, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải nâng cao chất lượng và hiệu quả đầu tư.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu đầu tư công phải đóng vai trò vốn mồi, tập trung vào giao thông, cảng biển, đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, hạ tầng số, cơ sở dữ liệu và các công trình có sức lan tỏa. Thủ tướng cũng yêu cầu tăng tốc giải ngân và đánh giá hiệu quả đầu tư.

Đây là hai mặt của cùng một vấn đề: Không phải giải ngân càng nhanh càng tốt, mà phải biến đồng vốn công thành năng lực sản xuất và không gian phát triển mới.

WB cảnh báo rằng,bài kiểm tra thực sự của chương trình cải cách là khả năng triển khai, tài trợ và duy trì nó với tốc độ tương xứng với tham vọng; đầu tư phải có năng suất và cải cách phải tạo được kết quả thực tế.

Theo WB, nếu làm tốt, cải cách có thể tạo ra vòng xoáy tích cực giữa niềm tin của nhà đầu tư, đầu tư tư nhân, tăng trưởng và khả năng chống chịu của nền kinh tế.

Thị trường nội địa và doanh nghiệp tư nhân: Phần 'thân' của nền kinh tế

Tám tháng đầu năm, bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng tăng 13,3%, trong đó mức tăng thực sau khi loại trừ yếu tố giá là 7,6%. Đây là tín hiệu cho thấy cầu trong nước đang phục hồi và thị trường hơn 100 triệu dân ngày càng có thể trở thành một trụ cột của tăng trưởng.

Cùng với đó, chính sách phát triển kinh tế tư nhân đang tạo ra một thay đổi đáng chú ý về thể chế. Nghị quyết 68-NQ/TW đặt kinh tế tư nhân vào vị trí là một động lực quan trọng của nền kinh tế và đề ra mục tiêu mở rộng mạnh số lượng doanh nghiệp, nâng tỷ trọng đóng góp của khu vực tư nhân và hình thành thêm những doanh nghiệp có khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Nhưng để chủ trương này trở thành năng lực tăng trưởng thực tế, điều quyết định là môi trường kinh doanh. Doanh nghiệp nhỏ cần tiếp cận vốn, đất đai, công nghệ, thị trường và thông tin; hộ kinh doanh cần có con đường thuận lợi để chuyển sang khu vực chính thức; doanh nghiệp lớn cần có điều kiện đầu tư dài hạn vào công nghệ và nghiên cứu phát triển.

Khi đó, thị trường nội địa không chỉ là nơi tiêu thụ sản phẩm mà còn là nơi doanh nghiệp Việt Nam tích lũy quy mô, công nghệ, thương hiệu và kinh nghiệm trước khi bước ra thị trường quốc tế.

Dự án đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội. (Nguồn: UBND TP. Hà Nội)

Dự án đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội. (Nguồn: UBND TP. Hà Nội)

Điểm nghẽn lớn nhất vẫn là năng suất

8 tháng đầu năm, xuất khẩu tăng 22,4% nhưng nhập khẩu tăng tới 35,3%, đưa cán cân thương mại hàng hóa sang nhập siêu khoảng 20,46 tỷ USD. Khu vực FDI xuất siêu 10,14 tỷ USD, trong khi khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 30,6 tỷ USD. Cơ quan thống kê lưu ý nguy cơ nhập siêu cả năm và áp lực đối với thị trường ngoại hối, tỷ giá.

Không thể vội vàng kết luận rằng nhập siêu tự thân là dấu hiệu xấu. Nếu nhập khẩu tăng do máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và tư liệu sản xuất phục vụ mở rộng năng lực, nó có thể là một phần của quá trình đầu tư cho tương lai.

Nhưng sự chênh lệch giữa khu vực FDI và khu vực trong nước cho thấy một vấn đề dài hạn: Năng lực sản xuất và chuỗi cung ứng của doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa đủ sâu.

Vì vậy, yêu cầu “nội địa hóa” cần được hiểu ở mức cao hơn việc thay thế một số linh kiện nhập khẩu. Đó phải là năng lực thiết kế, chế tạo, kiểm định, làm chủ công nghệ, sở hữu trí tuệ và cung cấp dịch vụ kỹ thuật. Chỉ khi đó, mỗi đồng xuất khẩu mới tạo ra nhiều giá trị hơn cho nền kinh tế Việt Nam.

WB dự báo tăng trưởng Việt Nam năm 2026 ở mức 6,8% trong báo cáo tháng 5/2026, thấp hơn mục tiêu hai con số của Việt Nam, đồng thời đánh giá triển vọng vẫn vững nhưng rủi ro bên ngoài cao.

Đến tháng 8/2026, Chính phủ cho biết, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã nâng dự báo tăng trưởng Việt Nam năm 2026 lên 8,2%, từ mức 7,1% trong tháng 4/2026. Sự khác biệt giữa các dự báo cho thấy môi trường quốc tế thay đổi nhanh và việc đạt một tốc độ tăng trưởng cụ thể phụ thuộc nhiều vào diễn biến thương mại, năng lượng, tài chính và chính sách của các đối tác.

Nhưng phía sau những dự báo ấy là một câu hỏi chung, đó là năng suất lao động. Việt Nam không thể dựa mãi vào mở rộng vốn, lao động và đất đai. Nếu mục tiêu 2045 là trở thành nước phát triển, thu nhập cao, tăng trưởng phải ngày càng dựa vào năng suất lao động, đổi mới công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã yêu cầu không chỉ nhìn GDP mà phải nhìn thu nhập thực, việc làm và chất lượng tăng trưởng. Còn Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu đo lường bằng kết quả. World Bank cũng nhấn mạnh rằng năng suất và khả năng giữ lại giá trị trong nước sẽ quyết định tính bền vững của đà tăng trưởng. Ba cách diễn đạt khác nhau nhưng gặp nhau ở một điểm: Chất lượng của tăng trưởng mới là thước đo dài hạn.

Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8/2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng tiếp tục nhấn mạnh đây là thời điểm phải “tăng tốc, bứt phá”, phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu năm 2026. Chính phủ đồng thời yêu cầu tăng tốc giải ngân đầu tư công, không để dồn khối lượng vào cuối năm, cải cách tổng thể thị trường tài chính và chứng khoán, giữ ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Khi phát động phong trào thi đua thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số, Thủ tướng nêu tinh thần hành động gồm “Tầm nhìn chiến lược - Tư duy đột phá - Hành động quyết liệt - Tăng trưởng bền vững - Nhân dân hạnh phúc”. Nếu đặt trong tổng thể các chỉ đạo của năm 2026, đây không chỉ là khẩu hiệu về tốc độ mà còn bao hàm yêu cầu về chất lượng, tính bền vững và kết quả cuối cùng đối với đời sống người dân.

Câu hỏi lớn nhất của kinh tế Việt Nam sau 9 tháng đầu năm 2026 không chỉ là GDP sẽ tăng bao nhiêu phần trăm trong cả năm. Câu hỏi lớn hơn là mỗi phần trăm tăng trưởng ấy tạo ra bao nhiêu năng lực mới cho đất nước. (Ảnh: Nguyễn Hồng)

Câu hỏi lớn nhất của kinh tế Việt Nam sau 9 tháng đầu năm 2026 không chỉ là GDP sẽ tăng bao nhiêu phần trăm trong cả năm. Câu hỏi lớn hơn là mỗi phần trăm tăng trưởng ấy tạo ra bao nhiêu năng lực mới cho đất nước. (Ảnh: Nguyễn Hồng)

Kỷ nguyên vươn mình được đo bằng năng lực tạo ra giá trị

Có thể khẳng định, 9 tháng đầu năm 2026 cho thấy Việt Nam có một nền tảng thuận lợi để bước vào giai đoạn phát triển mới: Sản xuất công nghiệp tăng, xuất khẩu tăng nhanh, FDI tăng mạnh, đầu tư công được đẩy lên, tiêu dùng trong nước phục hồi và cải cách thể chế đang được đặt ở vị trí trung tâm.

Nhưng cùng lúc, những điểm nghẽn về năng suất, công nghiệp hỗ trợ, chất lượng nhân lực, liên kết FDI - doanh nghiệp Việt Nam, thị trường vốn và hiệu quả thực thi chính sách vẫn còn đó.

Đó là lý do mục tiêu tăng trưởng hai con số cần được nhìn như một phương tiện để tạo ra một chu kỳ phát triển mới, chứ không phải đích đến tự thân. Tăng trưởng cao chỉ có ý nghĩa khi nó tạo thêm việc làm có chất lượng, nâng thu nhập thực, mở rộng cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam, tăng năng lực công nghệ và làm cho hạ tầng, giáo dục, y tế, môi trường sống của người dân tốt hơn.

Từ góc độ điều hành, thông điệp nổi bật của năm 2026 là chuyển từ “có chủ trương” sang “có kết quả”. Đó là tháo gỡ điểm nghẽn, phân cấp đi đôi với trách nhiệm, cắt vốn ở nơi không có khả năng triển khai để chuyển sang nơi có hiệu quả, tăng tốc đầu tư công nhưng phải hạch toán hiệu quả kinh tế - xã hội, tạo điều kiện cho tư nhân lớn lên, thu hút FDI có chọn lọc và đưa khoa học - công nghệ vào sản xuất.

Từ góc độ doanh nghiệp, yêu cầu là phải lớn lên bằng năng suất, công nghệ, quản trị và thương hiệu thay vì chỉ dựa vào lợi thế chi phí.

Từ góc độ người lao động, đó là quá trình chuyển từ lợi thế lao động đông sang lợi thế nhân lực có kỹ năng cao.

Từ góc độ Nhà nước, đó là xây dựng một thể chế đủ thông thoáng để nguồn lực xã hội được giải phóng nhưng đủ năng lực để bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, ổn định vĩ mô và phát triển bền vững.

Có thể nói, câu hỏi lớn nhất của kinh tế Việt Nam sau 9 tháng đầu năm 2026 không chỉ là GDP sẽ tăng bao nhiêu phần trăm trong cả năm. Câu hỏi lớn hơn là mỗi phần trăm tăng trưởng ấy tạo ra bao nhiêu năng lực mới cho đất nước.

Nếu những cây cầu, tuyến đường, sân bay, cảng biển và hạ tầng số làm giảm chi phí kinh doanh; nếu vốn FDI kéo theo doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng; nếu doanh nghiệp tư nhân có thể lớn lên thành những tập đoàn cạnh tranh khu vực; nếu khoa học - công nghệ chuyển được từ phòng thí nghiệm vào nhà máy; nếu người lao động có kỹ năng cao hơn và thu nhập thực tăng lên, thì tăng trưởng sẽ dần chuyển thành năng lực phát triển.

Đó cũng là thước đo thực chất của “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”: Không chỉ làm cho nền kinh tế lớn hơn, mà làm cho năng lực tạo ra giá trị của nền kinh tế Việt Nam lớn hơn; không chỉ tham gia sâu vào thế giới, mà từng bước nâng vị trí của mình trong chuỗi giá trị toàn cầu; không chỉ tăng nhanh hôm nay, mà tạo nền móng để đến năm 2045 Việt Nam có thể đứng trong nhóm các nước phát triển, có thu nhập cao.

Phan Hải

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/kinh-te-viet-nam-tu-tang-truong-nhanh-den-cuoc-chuyen-doi-mo-hinh-447057.html