Kỳ 5: Petrovietnam và sứ mệnh kiến tạo năng lực quốc gia trên biển
Khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đến năm 2045 đòi hỏi không chỉ tầm nhìn chiến lược, thể chế hiện đại hay nền tảng khoa học - công nghệ tiên tiến, mà còn cần những doanh nghiệp đủ năng lực dẫn dắt các ngành kinh tế biển. Đối với Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), Nghị quyết số 20-NQ/TW mở ra không chỉ một không gian phát triển mới, mà còn đặt ra một sứ mệnh lớn hơn: góp phần kiến tạo năng lực quốc gia trên biển.

Cảng Dầu khí và Dịch vụ Năng lượng tái tạo (PTSC Supply Base)
Lực lượng kiến tạo năng lực quốc gia
Sau hơn nửa thế kỷ hình thành và phát triển, Petrovietnam đã đồng hành cùng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đóng góp quan trọng vào bảo đảm an ninh năng lượng, tăng thu ngân sách nhà nước và khẳng định quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển thông qua các hoạt động kinh tế hợp pháp. Có thể nói, Petrovietnam là nơi tích lũy các năng lực ngoài khơi mà Việt Nam gần như chưa có chủ thể nào khác sở hữu đầy đủ.
Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, khi Nghị quyết số 20 xác lập mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, yêu cầu đặt ra đối với Petrovietnam cũng không dừng lại ở việc duy trì vai trò của một tập đoàn năng lượng quốc gia.
Không gian phát triển của Tập đoàn đang được mở rộng cùng với không gian phát triển của đất nước.
Nếu trước đây, nhiệm vụ trọng tâm là tìm kiếm, thăm dò, khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên dầu khí, bảo đảm nguồn cung năng lượng và phát triển công nghiệp dầu khí, thì nay Petrovietnam được kỳ vọng phát huy những nền tảng đã tích lũy để tham gia sâu hơn vào việc hình thành các ngành công nghiệp biển hiện đại, các chuỗi giá trị năng lượng mới và hệ sinh thái công nghệ ngoài khơi.
Đó là bước chuyển từ tư duy phát triển theo chiều rộng sang kiến tạo năng lực phát triển dài hạn; từ khai thác nguồn lực tự nhiên sang phát huy nguồn lực tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Sau nửa thế kỷ phát triển, Tập đoàn không chỉ hình thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh trong lĩnh vực dầu khí, mà còn tích lũy được hệ sinh thái công nghiệp - năng lượng và dịch vụ kỹ thuật ngoài khơi có quy mô hàng đầu cả nước.
Đó là năng lực điều tra cơ bản, khảo sát địa chất, địa vật lý và thăm dò dầu khí; năng lực thiết kế, chế tạo, xây lắp và vận hành các công trình ngoài khơi; hệ thống dịch vụ kỹ thuật chuyên sâu; đội ngũ chuyên gia, kỹ sư có trình độ cao; cùng mạng lưới các đơn vị nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ được hình thành qua nhiều thế hệ.
Đây là những năng lực được tích lũy trong thời gian dài, thông qua hàng trăm dự án trong nước và quốc tế, tạo nên lợi thế mà không thể hình thành trong thời gian ngắn.
Quan trọng hơn, những năng lực ấy không chỉ phục vụ ngành dầu khí. Đó là nền tảng để Petrovietnam tham gia triển khai các lĩnh vực mới như điện gió ngoài khơi, phát triển chuỗi năng lượng tích hợp, hydrogen, amoniac xanh, thu giữ và lưu trữ carbon (CCS), logistics năng lượng, dịch vụ kỹ thuật biển và nhiều ngành công nghiệp ngoài khơi có hàm lượng khoa học - công nghệ cao. Đây cũng chính là những lĩnh vực mà Nghị quyết số 20 định hướng phát triển nhằm tạo động lực tăng trưởng mới cho kinh tế biển Việt Nam.
Từ giá trị doanh nghiệp đến giá trị quốc gia
Một điểm đáng chú ý trong các nghị quyết của Trung ương thời gian qua là yêu cầu phát huy vai trò dẫn dắt của các doanh nghiệp nhà nước trong những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Điều đó không chỉ được thể hiện trong các chủ trương về phát triển doanh nghiệp nhà nước, mà còn xuyên suốt trong các nghị quyết về đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển khoa học - công nghệ, hoàn thiện thể chế và xây dựng quốc gia biển mạnh.
Theo tinh thần đó, giá trị của một doanh nghiệp nhà nước không chỉ được đánh giá bằng doanh thu, lợi nhuận hay mức đóng góp ngân sách. Quan trọng hơn là khả năng tạo dựng những năng lực mới cho nền kinh tế. Đó là năng lực làm chủ công nghệ cốt lõi. Là năng lực phát triển công nghiệp nền tảng. Là khả năng kết nối doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng. Là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Là thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Và là tạo sức lan tỏa cho toàn bộ nền kinh tế.
Trong lĩnh vực kinh tế biển, điều này càng có ý nghĩa bởi phần lớn các năng lực nền tảng đều đòi hỏi đầu tư dài hạn, công nghệ cao và khả năng tích hợp nhiều ngành mà khu vực tư nhân khó có thể tự hình thành.
Đối với Petrovietnam, những giá trị đó đang ngày càng trở nên rõ nét khi Tập đoàn triển khai chiến lược chuyển đổi từ doanh nghiệp dầu khí truyền thống thành Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam, phát triển theo mô hình năng lượng tích hợp, đồng thời mở rộng sang các lĩnh vực năng lượng mới, công nghiệp ngoài khơi và các ngành có hàm lượng công nghệ cao. Đây không chỉ là yêu cầu tự thân của doanh nghiệp trước xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu, mà còn là quá trình cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Điều đó có nghĩa, thước đo cuối cùng của Nghị quyết số 20 không nằm ở số lượng chương trình hay kế hoạch được ban hành, mà ở việc Việt Nam có thực sự hình thành được các năng lực mới trên biển hay không.
Trong phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Sự thành công của các nghị quyết không được đo bằng số lượng văn bản được ban hành, mà phải được đo bằng những chuyển biến thực chất trong phát triển kinh tế - xã hội, bằng những kết quả cụ thể mang lại cho đất nước và Nhân dân”.
Thông điệp đó cũng là thước đo đối với việc triển khai Nghị quyết số 20. Khát vọng xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh sẽ không chỉ được thể hiện trong các chiến lược hay quy hoạch, mà phải được hiện thực hóa bằng những công trình ngoài khơi hiện đại; những dự án năng lượng quy mô lớn; những trung tâm logistics và dịch vụ biển; những công nghệ do người Việt Nam làm chủ; những doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh quốc tế; cùng đội ngũ chuyên gia, kỹ sư và nhà khoa học có khả năng chinh phục những giới hạn mới của biển.
Trong tiến trình đó, Petrovietnam không phải là lực lượng duy nhất, nhưng là một trong những lực lượng nòng cốt. Bởi cùng với vai trò bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, Tập đoàn đang sở hữu những điều kiện quan trọng để kết nối khoa học - công nghệ, công nghiệp chế tạo, dịch vụ kỹ thuật, nguồn nhân lực và đổi mới sáng tạo, góp phần hình thành năng lực quốc gia trên biển. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là phát triển mạnh hơn các ngành kinh tế biển, mà là tạo dựng những năng lực mới để Việt Nam vươn lên trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển và phát triển bền vững từ biển vào năm 2045.
Thay lời kết
Biển luôn mở ra những không gian phát triển mới cho dân tộc Việt Nam. Hôm nay, cùng với Nghị quyết số 20-NQ/TW, không gian ấy được mở rộng bằng một tầm nhìn chiến lược mới: xây dựng quốc gia biển mạnh trên nền tảng thể chế hiện đại, khoa học - công nghệ tiên tiến, doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh quốc tế và quản trị quốc gia hiệu quả. Đó là hành trình lâu dài, đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội.
Trong cách tiếp cận của Nghị quyết số 20, năng lực quốc gia trên biển không chỉ là khả năng khai thác tài nguyên, mà còn là khả năng điều tra cơ bản, làm chủ công nghệ ngoài khơi, phát triển công nghiệp chế tạo, tổ chức chuỗi cung ứng, đào tạo nguồn nhân lực và đổi mới sáng tạo để khai thác, bảo vệ và phát triển biển một cách bền vững. Chính những năng lực đó mới quyết định vị thế lâu dài của một quốc gia biển.
Đối với Petrovietnam, hành trình ấy cũng đánh dấu sự chuyển dịch từ vai trò của một tập đoàn năng lượng chủ lực sang vai trò của một doanh nghiệp góp phần kiến tạo năng lực quốc gia trên biển. Không chỉ tạo ra sản phẩm cho nền kinh tế, mà còn góp phần tạo dựng năng lực để nền kinh tế tiếp tục phát triển. Đồng thời, góp phần tạo dựng nền tảng khoa học - công nghệ, công nghiệp, nguồn nhân lực và sức mạnh nội sinh để cùng đất nước hiện thực hóa khát vọng vươn ra biển lớn, xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI.











