Kỳ cuối: Đầu tư có trọng tâm, tháo gỡ điểm nghẽn đồng bộ

Để hệ thống cụm công nghiệp (CCN) thực sự trở thành động lực phát triển sản xuất, Đà Nẵng cần chuyển trọng tâm từ mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng đầu tư và hiệu quả khai thác. Việc bố trí nguồn lực phải dựa trên mức độ sẵn sàng về pháp lý, nhu cầu thực tế và khả năng thu hút doanh nghiệp; đồng thời giải quyết đồng bộ các vướng mắc về quy hoạch, giải phóng mặt bằng, hạ tầng, môi trường và quản lý sau đầu tư.

Hoạt động sản xuất ở cụm công nghiệp Hà Lam - Chợ Được (xã Thăng Bình).

Hoạt động sản xuất ở cụm công nghiệp Hà Lam - Chợ Được (xã Thăng Bình).

Tổng rà soát CCN

Trước hết, cần rà soát tổng thể tình hình đầu tư, phát triển 63 CCN, trên cơ sở phân loại theo từng nhóm vấn đề như: pháp lý, hạ tầng, thiếu đồng thời pháp lý và hạ tầng; vướng mắc pháp lý cần điều chỉnh/loại bỏ... Đối với các cụm cơ bản hoàn chỉnh về pháp lý và hạ tầng, cần tập trung duy trì chất lượng vận hành, khai thác hiệu quả tài sản và hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng sản xuất. Các cụm đã đủ điều kiện pháp lý nhưng còn thiếu hạ tầng cần được rà soát để ưu tiên những hạng mục cấp thiết, có khả năng phát huy hiệu quả ngay sau khi hoàn thành. Với các cụm chưa hoàn thiện cả pháp lý và hạ tầng, cần hoàn thành các thủ tục cơ bản trước khi quyết định đầu tư bổ sung. Đối với những cụm có vướng mắc pháp lý hoặc chưa có quyết định thành lập, phải rà soát riêng để xác định phương án tiếp tục phát triển, điều chỉnh quy hoạch hoặc xử lý theo quy định,.. Việc phân loại cần được cập nhật thường xuyên, tránh tình trạng duy trì các dự án không còn phù hợp nhưng vẫn tiếp tục đề xuất vốn đầu tư.

Cùng với đó, rà soát sự thống nhất giữa quy hoạch CCN với Quy hoạch thành phố theo Quyết định số 773/QĐ-UBND về phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch thành phố Đà Nẵng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; đánh giá mức độ thống nhất giữa quy hoạch thành phố, quy hoạch chung, quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết có liên quan. Trên cơ sở đó, xác định các CCN không còn cần thiết, không còn phù hợp với định hướng phát triển để đề xuất điều chỉnh hoặc xử lý theo quy định; đồng thời, đề xuất giải pháp tháo gỡ đối với các CCN còn vướng mắc, chưa thống nhất giữa các cấp quy hoạch. Đối với các cụm có sự khác biệt về diện tích, ranh giới hoặc ngành nghề giữa quyết định thành lập và quy hoạch chi tiết, cần xác định rõ nguyên nhân, căn cứ pháp lý và thẩm quyền điều chỉnh. Những cụm chưa có quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 phải được xử lý theo đúng trình tự trước khi triển khai các hạng mục đầu tư có liên quan. Các CCN chịu ảnh hưởng của tuyến giao thông lớn, đường sắt hoặc công trình hạ tầng liên vùng cần sớm xác định phạm vi ảnh hưởng và phương án khai thác phù hợp, tránh đầu tư hạ tầng mang lại hiệu quả thấp. Đối với những cụm không còn đáp ứng định hướng phát triển hoặc không chứng minh được nhu cầu thực tế, cần xem xét điều chỉnh quy mô hoặc đưa ra khỏi quy hoạch. Riêng đối với các cụm đang hoạt động nhưng chưa có quyết định thành lập, cần rà soát đầy đủ hiện trạng đất đai, xây dựng, môi trường và hoạt động sản xuất để có lộ trình xử lý cụ thể. Mục tiêu là vừa bảo đảm hoạt động sản xuất hợp pháp, vừa khắc phục khoảng trống pháp lý và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.

Bố trí vốn theo khả năng khai thác, tránh đầu tư dàn trải

Trong điều kiện nguồn lực có hạn, đầu tư công cần ưu tiên các CCN có pháp lý cơ bản hoàn chỉnh, nhu cầu đầu tư thực tế, khả năng thu hút doanh nghiệp rõ ràng và chỉ còn thiếu một số hạng mục thiết yếu để đưa hạ tầng vào khai thác. Theo đó, việc lựa chọn dự án đầu tư xây dựng cần căn cứ vào hiệu quả đầu tư, số doanh nghiệp được hưởng lợi, diện tích đất có thể đưa vào sử dụng, khả năng tạo việc làm, mức độ cải thiện điều kiện sản xuất và yêu cầu bảo vệ môi trường,.. Không nên phân bổ vốn chỉ dựa trên quy mô quy hoạch hoặc đề xuất của địa phương khi chưa đánh giá đầy đủ khả năng triển khai.

Đối với các cụm có tỷ lệ lấp đầy cao nhưng còn thiếu đường giao thông, thoát nước, cấp điện, phòng cháy, chữa cháy hoặc công trình môi trường thiết yếu, cần ưu tiên hoàn thiện những hạng mục ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất. Riêng hệ thống xử lý nước thải tập trung, cần tính toán quy mô, công suất dựa trên lưu lượng và thành phần nước thải thực tế, cơ cấu ngành nghề, số doanh nghiệp đang hoạt động và khả năng thu hút trong các giai đoạn tiếp theo. Xem xét nghiên cứu phương án đầu tư phân kỳ, bảo đảm công suất ban đầu phù hợp với nhu cầu nhưng có khả năng mở rộng khi cần thiết. Đồng thời, phải tính đủ chi phí vận hành, bảo trì, quan trắc và xác định rõ đơn vị chịu trách nhiệm quản lý trước khi quyết định đầu tư. Đây là điều kiện quan trọng để tránh tình trạng công trình có quy mô lớn nhưng hoạt động dưới công suất, phát sinh chi phí kéo dài và gây lãng phí nguồn lực công.

Song song với đó, lập kế hoạch GPMB cụ thể đối với từng CCN, làm rõ diện tích còn lại, nguồn gốc đất, số hộ bị ảnh hưởng, nhu cầu tái định cư, kinh phí và khả năng cân đối vốn. Trên cơ sở đó, phân loại các trường hợp có thể hoàn thành sớm, các trường hợp vướng mắc về hồ sơ đất đai,… Ưu tiên bố trí nguồn lực cho các cụm đã có nhu cầu đầu tư thực tế, có nhà đầu tư đủ năng lực, tỷ lệ lấp đầy cao hoặc chỉ còn một phần diện tích cần GPMB để hoàn thiện hạ tầng.

Cùng với nguồn vốn ngân sách nhà nước, thành phố cần đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư, khuyến khích doanh nghiệp có đủ năng lực tài chính và kinh nghiệm tham gia đầu tư, kinh doanh hạ tầng CCN. Việc lựa chọn nhà đầu tư cần căn cứ vào năng lực thực tế, phương án huy động và sử dụng vốn, tiến độ triển khai, khả năng thu hút doanh nghiệp thứ cấp và cam kết bảo vệ môi trường. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp, quy định rõ trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên, bảo đảm công khai, minh bạch, tuân thủ quy định pháp luật nhằm giảm áp lực cho ngân sách nhà nước và nâng cao hiệu quả đầu tư, khai thác hạ tầng CCN.

Việc đánh giá hiệu quả CCN cần đảm bảo theo các chỉ tiêu thực chất, không chỉ dựa vào tỷ lệ lấp đầy như: số doanh nghiệp đang hoạt động, diện tích đất thực sự được sử dụng, tiến độ triển khai dự án, việc làm tạo ra, mức đóng góp kinh tế và mức độ tuân thủ quy định môi trường... Cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp, dự án, quỹ đất và hạ tầng cần được cập nhật thường xuyên để phục vụ quản lý, phát hiện sớm các trường hợp chậm tiến độ và tạo điều kiện cho nhà đầu tư mới tiếp cận mặt bằng.

Minh Sơn

Nguồn CAĐN: https://cadn.com.vn/ky-cuoi-dau-tu-co-trong-tam-thao-go-diem-nghen-dong-bo-post360091.html