Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI: Xử lý nghiêm vi phạm hành chính nhưng phải có căn cứ thực tiễn
Thảo luận tại tổ về dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) vào chiều 26-10, các đại biểu Quốc hội đánh giá, xử lý vi phạm hành chính trực tiếp tác động đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp. Vì vậy, luật cần bảo đảm yêu cầu xử lý nghiêm, kịp thời các hành vi vi phạm; đồng thời kiểm soát chặt chẽ việc áp dụng các biện pháp xử phạt, cưỡng chế, bảo đảm đúng đối tượng, tương xứng và khả thi.
Mức phạt phải gắn với khả năng thi hành và việc khắc phục hậu quả

Đại biểu Đặng Doãn Thành (Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Đồng Nai) phát biểu tại phiên thảo luận. Ảnh: CTV
Tại phiên thảo luận, đại biểu Đặng Doãn Thành (Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Đồng Nai) tán thành việc xây dựng Luật Xử lý vi phạm hành chính để giải quyết những vướng mắc đã bộc lộ qua thực tiễn thời gian qua. Là đại biểu đang công tác tại phường Trảng Bom, từng là lãnh đạo trong lực lượng Công an Đồng Nai, đại biểu quan tâm trước hết đến việc cán bộ cơ sở có đủ căn cứ, điều kiện để xử lý đúng và người dân có thể thực hiện được quyết định xử lý hay không.
Đại biểu phân tích, vẫn có những quy định cần làm rõ để khi thi hành không tiếp tục phát sinh tình trạng hồ sơ chuyển qua lại, quyết định khó thực hiện hoặc biện pháp cưỡng chế ảnh hưởng đến cả người không vi phạm.
Việc đề xuất mức phạt phải gắn với khả năng thi hành và việc khắc phục hậu quả. Báo cáo tổng kết của Công an thành phố Đồng Nai ghi nhận, trong giai đoạn từ ngày 1-7-2013 đến hết 30-6-2025, có 255 quyết định cưỡng chế thi hành phạt tiền; 9 quyết định không thể thi hành và đã hết thời hiệu thi hành. Nguyên nhân được nêu là mức phạt vượt khả năng của người vi phạm; xác minh tài khoản không có đủ tiền, không có thu nhập ổn định, không có tài sản để kê biên. Đây là vướng mắc thực tế cần được giải quyết khi sửa luật.
Điều 24 dự thảo nâng mức phạt tối đa lên 1,5 tỷ đồng đối với cá nhân, 3 tỷ đồng đối với tổ chức; cho phép HĐND thành phố quyết định mức phạt cao hơn trong một số lĩnh vực. Đại biểu đồng tình xử lý nghiêm hành vi cố ý, thu lợi lớn, gây hậu quả nghiêm trọng. Nhưng cần đánh giá riêng từng nhóm hành vi, kết hợp thu hồi thu lợi bất chính, buộc khắc phục hậu quả và đình chỉ hoạt động khi cần thiết. Việc tăng mức phạt phải chứng minh được khả năng ngăn ngừa và thi hành, nhất là đối với người lao động, hộ kinh doanh nhỏ.
Đề nghị bổ sung ngay tại Điều 24 tiêu chí để HĐND lựa chọn hành vi và địa bàn áp dụng mức phạt cao hơn, dựa trên mức độ vi phạm, yêu cầu quản lý và điều kiện kinh tế, xã hội. Trong cùng một thành phố, điều kiện của khu vực đô thị tập trung và các địa bàn nông thôn có thể khác nhau; cần có đánh giá tác động và công khai căn cứ trước khi quyết định.
Đại biểu cho rằng, phải xác định thời hạn và trách nhiệm ở từng khâu chuyển hồ sơ. Có tình huống người lập biên bản chuyển hồ sơ đúng hạn, nhưng người nhận sau 7 ngày làm việc mới trả lại vì không thuộc thẩm quyền, làm hết thời hạn ra quyết định. Điều 55 dự thảo đã dành 10 ngày làm việc cho vụ việc phải chuyển hồ sơ, nhưng khoản 5 Điều 46 vẫn chỉ yêu cầu chuyển “kịp thời”, chưa xác định thời hạn kiểm tra thẩm quyền của người nhận. Nếu không có thời hạn kiểm tra thẩm quyền ngay khi nhận, người chuyển và người nhận có thể đều chờ, còn vụ vi phạm không xử phạt được.
“Đề nghị bổ sung khoản 5 Điều 46 theo hướng, trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ, người nhận phải xác định thẩm quyền; nếu không thuộc thẩm quyền thì chuyển trực tiếp đến người có thẩm quyền và thông báo cho cơ quan đã chuyển. Việc chuyển hồ sơ phải có xác nhận thời điểm gửi, nhận, danh mục tài liệu và lý do chuyển” - đại biểu Đặng Doãn Thành phân tích.
Đồng thời, cần có đầu mối giải quyết ngay trường hợp tranh chấp thẩm quyền, không để hồ sơ bị trả nhiều vòng; dùng một mã hồ sơ và mẫu bàn giao thống nhất. Thời hạn chuyển, kiểm tra hồ sơ nằm trong tổng thời hạn xử lý của luật. Cơ quan chậm trễ phải chịu trách nhiệm, không được yêu cầu lập lại biên bản hoặc tính lại thời hạn để che việc quá hạn.
Đối với hồ sơ từ tố tụng hình sự chuyển sang, thực tế có vụ hết thời hiệu xử phạt. Pháp luật hiện hành đã kéo dài thêm 1 năm đối với trường hợp này; khoản 3 Điều 6 dự thảo tiếp tục quy định đó và tính cả thời gian tạm đình chỉ tố tụng vào thời hiệu. Vì vậy, cần đánh giá liệu cộng thêm 1 năm đã giải quyết hết vướng mắc hay chưa.
Ví dụ giả định, một hành vi có thời hiệu xử phạt 1 năm nhưng vụ việc được xem xét theo tố tụng hình sự hơn 2 năm, thì cộng thêm 1 năm vẫn có thể không đủ. Tôi đề nghị nghiên cứu cơ chế tạm dừng tính thời hiệu trong thời gian thụ lý tố tụng hợp pháp, sau đó tính tiếp phần thời hiệu còn lại, kèm một thời gian tối thiểu đủ để ra quyết định. Phải ghi rõ mốc bắt đầu, kết thúc và kiểm soát việc kéo dài tố tụng; không tính lại toàn bộ thời hiệu từ đầu mỗi lần chuyển hồ sơ.
Không để việc tạm giữ tài sản kéo dài khi chưa đủ căn cứ xử phạt
Theo đại biểu Đặng Doãn Thành đề xuất, không để việc tạm giữ tài sản kéo dài khi chưa đủ căn cứ xử phạt. Khoản 11 Điều 109 cho phép kéo dài việc tạm giữ đến khi lập biên bản trong trường hợp chưa đủ căn cứ lập biên bản; đồng thời có các quy định kéo dài đến khi ra quyết định hoặc thi hành xong quyết định. Mặc dù điều khoản còn quy định giới hạn theo thời hạn ra quyết định xử phạt, nhưng thời hạn đó thường bắt đầu từ ngày lập biên bản. Vì vậy, cần làm rõ giới hạn đối với giai đoạn trước khi lập biên bản, tránh cách hiểu có thể giữ tài sản mà chưa xác định được ngày kết thúc.
Ví dụ, xe tải của một hộ kinh doanh bị giữ để xác minh nguồn gốc hàng hóa. Nếu việc xác minh chưa xong và chưa lập được biên bản, xe vẫn nằm bãi thì chủ xe mất phương tiện làm ăn, giá trị tài sản tiếp tục giảm. Việc cần xác minh thêm không thể tự nó trở thành căn cứ giữ tài sản không có giới hạn.
Đề nghị quy định tổng thời hạn tạm giữ để xác minh, kể cả trước khi lập biên bản, không quá giới hạn tối đa được luật xác định; có thể thống nhất với mức tối đa 2 tháng của vụ việc phức tạp, tính từ thời điểm giữ thực tế. Hết hạn mà chưa đủ căn cứ thì phải trả, tiếp tục xác minh bằng biện pháp hợp pháp khác. Việc giữ để bảo đảm thi hành quyết định phải có căn cứ riêng và thực hiện đúng cơ chế xử lý tài sản tại Điều 110.
Khoản 13 Điều 109 đã cho phép giao người vi phạm bảo quản trong một số trường hợp. Cần quy định tiêu chí áp dụng rõ, ưu tiên giải pháp này khi vẫn bảo đảm ngăn chặn, xác minh và thi hành; ghi nhận hiện trạng bằng hình ảnh, xác định trách nhiệm bảo quản, chi phí và bồi thường. Với phương tiện không đến nhận, phải xác minh chủ sở hữu và quyền của bên thứ ba, thông báo đúng thủ tục, xử lý đúng hạn để tránh tồn bãi kéo dài.

