Ký kết FTA Việt Nam – EFTA, mở đường cho kỷ nguyên hợp tác thực chất
Đước tổ chức ngay sau khi Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và khối EFTA có hiệu lực, Diễn đàn Kinh tế Việt Nam – Thụy Sĩ (SVEF) 2026 hướng tới việc hiện thực hóa những cam kết trở thành những cơ hội hợp tác thương mại và đầu tư thực chất…

Toàn cảnh diễn đàn. Ảnh: ĐH.
Đây là diễn đàn được tổ chức ngay sau khi Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và khối EFTA (gồm Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland, Liechtenstein) được ký kết và trong bối cảnh hai nước cùng hướng tới kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao.
Sau hơn một thập kỷ với 21 vòng đàm phán, việc hoàn tất ký kết Hiệp định Thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và khối EFTA mở ra không gian hợp tác toàn diện, xóa bỏ gần như toàn bộ các dòng thuế quan và xác lập hành lang pháp lý minh bạch, ổn định cho cộng đồng doanh nghiệp đôi bên.
TỪ CAM KẾT THUẾ QUAN ĐẾN CHUẨN MỰC LAO ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Phát biểu khai mạc diễn đàn, bà Helene Budliger Artieda, Quốc vụ khanh Cục Kinh tế Liên bang Thụy Sĩ (SECO), nhấn mạnh việc hoàn tất hiệp định sau 21 vòng đàm phán mới là bước khởi đầu cho những cơ hội thực chất sắp tới giữa hai bên.
Theo Quốc vụ khanh SECO, giá trị của hiệp định lần này vượt xa những ưu đãi tiếp cận thị trường truyền thống. Theo đó, gần như toàn bộ các dòng thuế sẽ được cắt giảm theo lộ trình, tạo lợi thế thương mại trực tiếp giữa bối cảnh bảo hộ thuế quan đang gia tăng trên toàn cầu.
Hiệp định cũng tạo khung khổ vững chắc cho đổi mới sáng tạo, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào bằng sáng chế, công nghệ cao và sản phẩm giá trị gia tăng.
Đặc biệt, lần đầu tiên các cam kết khí hậu, chuyển dịch xanh và tiêu chuẩn việc làm thỏa đáng được lồng ghép chặt chẽ, phù hợp với định hướng phát triển có trách nhiệm của cả hai bên.
Bên cạnh thương mại, bà Artieda khẳng định Thụy Sĩ tiếp tục là đối tác phát triển dài hạn của Việt Nam kể từ năm 1991, với hơn 800 triệu USD nguồn vốn ODA đã giải ngân. Trọng tâm hỗ trợ hiện nay chuyển mạnh sang cung cấp năng lực kỹ thuật và hoàn thiện điều kiện khung thể chế, giúp khu vực tư nhân Việt Nam tự chủ bứt phá.
Đồng tình với tầm nhìn này, Tiến sĩ Philipp Rösler, nguyên Phó Thủ tướng CHLB Đức, Chủ tịch Diễn đàn Kinh tế Thụy Sĩ – Việt Nam (SVEF), khẳng định tự do thương mại và cạnh tranh công bằng luôn là động lực cốt lõi cho thịnh vượng.

Bà Helene Budliger Artieda, Quốc vụ khanh Cục Kinh tế Liên bang Thụy Sĩ (SECO). Ảnh: ĐH.
Nhấn mạnh ý nghĩa của diễn đàn trong việc thực hiện các cam kết của hiệp định, ông Rösler cho rằng công nghệ hay các ứng dụng trực tuyến rất hiện đại, nhưng điều quan trọng nhất vẫn là sự kết nối trực tiếp giữa con người với con người. Những kết nối hôm nay sẽ tiếp thêm nguồn lực cho thương mại và dòng vốn đầu tư trực tiếp trong tương lai.
BA ƯU TIÊN THEN CHỐT CHO DOANH NGHIỆP
Đại diện cho cơ quan quản lý nhà nước, ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên (Bộ Công Thương) nhận định, thành công của FTA giữa Việt Nam và khối EFTA không thể chỉ đo đếm bằng số dòng thuế được cắt giảm, mà phải bằng số hợp đồng xuất khẩu thực tế, quy mô chuyển giao công nghệ và mức thu nhập tốt hơn cho người lao động.
Theo đó, ông nêu rõ ba vấn đề then chốt cho khu vực doanh nghiệp.
Một là, liên quan tới vấn đề thuế suất, ông Khanh cho rằng, mức thuế quan bằng 0 sẽ trở nên vô nghĩa nếu sản phẩm không vượt qua các rào cản kỹ thuật, tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, yêu cầu phát triển bền vững và truy xuất nguồn gốc số. Do đó, doanh nghiệp Việt cần chủ động kiểm tra quy tắc xuất xứ và đánh giá chuẩn xác chi phí tuân thủ trước khi tiến vào thị trường EFTA vốn có sức mua lớn nhưng tiêu chuẩn cực kỳ khắt khe.
Hai là, về việc gắn thương mại với chuỗi giá trị và chuyển giao công nghệ, Việt Nam không hướng đến việc chỉ nhập khẩu máy móc hay làm gia công thuần túy, mà kỳ vọng thu hút các dự án trong lĩnh vực cơ khí chính xác, dược phẩm, năng lượng xanh, logistics và công nghệ số từ Thụy Sĩ nhằm xây dựng năng lực sản xuất nội địa.
Ba là, liên quan tới việc thực thi xoay quanh nhu cầu thực tế, doanh nghiệp cần được hướng dẫn cụ thể về thủ tục, hồ sơ hưởng ưu đãi và đầu mối tháo gỡ vướng mắc kịp thời.
Để đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp, Bộ Công Thương đang hoàn thiện Hệ thống Quản lý và Thực thi FTA dựa trên ba trụ cột: Cổng thông tin điện tử FTA (FTA Portal) cung cấp dữ liệu dịch vụ công khai; Bộ chỉ số đánh giá thực thi FTA ở các địa phương (FTA Index); và Hệ sinh thái tận dụng FTA (FTA Ecosystem) nhằm kết nối chặt chẽ các chủ thể trong chuỗi giá trị.



